PHÂN KHOA BIỆN MINH CHỨNG NGHIỆM

27/08/2018

 VIỆT NAM DỊCH LÝ HỘI

Giới thiệu

PHÂN KHOA BIỆN MINH CHỨNG NGHIỆM

 

Phân khoa Biện Minh Chứng Nghiệm là phân khoa Thực hành Học Thuyết Tiên Hâu Thiên Trí Tri Ý Thức của DLVN; Các bài quảng diễn của Phân Hội Đức như:

  • Bàn về Nghệ thuật Kiểm soát Chiêm nghiệm,
  • Tóm tắt Lý thuyết Biện minh chứng nghiệm,
  • Phương pháp Vận dụng Đức Thần minh Vô Tư,
  • Lý thuyết áp dụng Vô Cực Đức Tánh hay Thai nhi Vũ trụ,
  • Tiên Hậu Thiên Học Thuật,
  • Lý Thuyết Thanh lọc,
  • Ngũ thần Toát yếu,

Chỉ là những bài phụ đạo dẫn đường giúp Học viên dễ dàng nắm vững Lý thuyết trong lúc Thực hành, thực tập sao cho Lý thuyết và Thực hành CLCC LTTT hiện diện trong Trí Tri Ý Thức. Kỹ thuật thực tập phân khoa này tạm chia là hai Phương pháp chính theo từng trình độ nhận thức về Lý Thuyết DLVN:

I.- PHƯƠNG  PHÁP KIỂM SOÁT CHIÊM NGHIỆM

a.- Trình độ Sơ Đẳng:

  • Thực tập ý nghiã AD Danh Lý và Danh được Lý trong Phạm vi của Bát Quái ( Bài tập Bát quái Vạn loại)
  • Thực tập 64 Quẻ Tượng với Sách Dịch Lý Khai Nguyên 1.

b.- Trình độ Trung Đẳng:

  • Thực tập Lý Sinh Khắc (Việt Dich Chánh Tông)
  • Thưc tập Lý Đông Tĩnh, biên thông ADLS .

c.- Trình độ Cao Đẳng:

  • Thưc tập Biến thông Ngũ thần
  • Thực Tập Lý Tính và Lý Thành CLCC, LTTT .
  • Thực tập Biến thông với Trí Tri Cơ cấu của Vô Cực Đức Tính.

II.- PHƯƠNG PHÁP THANH LỌC TRI THỨC

Đây là Phương pháp dành cho các Hoc viên trên Cao Đẳng, bởi vì ở Cao Đẳng đã Thực tập qua các giai đoạn biến Thường Kiến thành Tri Thức; Cho nên Nhu cầu Trí tuệ cần phải có sự Thanh Lọc các Tri thức sẵn có trong Nhân loại để mong truy tìm được Chân Lý cho Nhu Cầu Trí tuệ của chính mình. Dưới đây Một số Danh Ý ta cần có:

Thường kiến:

Là ý nghĩ, ý tưởng, niềm tin tạm thời của ta, ta tự do đi tới một quyết định về nó, bằng cách này hay cách khác, lúc đó điều ta nghĩ chỉ  là thường kiến, là ý kiến riêng tư của ta, nó được hình thành mà không bị lệ thuộc, cưỡng bách; cho nên Thường kiến:

  • Nói lên những khả hữu (có thể có) hơn là những điều chắc chắn (Tất định).
  • Ý nghĩ, ý tưởng này của ta có thể bị tha nhân nghi ngờ, bất đồng ý, phản đối.

Tri Thức:

Là Tri thức khi đối tượng mà ta đang suy nghĩ đến buộc ta phải tư duy về nó theo một phương pháp, một quy ước, một nguyên lý hay một số Đinh luât công thức nào đó, nó không phải là ý kiến, ý tưởng riêng của  ta . Ví dụ:

  • Tri thức Toán học, Vật lý, Hoá học….
  • Tri thức về Triết của các Triết gia…
  • Tri thức về Lich sử.
  • Tri thức Khoa học thực nghiệm.
  • Tri Thức Đông Y, Phong Thuỷ..
  • Tri thức Dịch Lý VN.
  • ….

    Tuy nhiên việc tạm phân biệt Tri thức và Thường kiến như trên ta nên hiểu Trí Tri Ý chỉ là 1 AD Trí Tri Ý cho nên Thường kiến cũng trở nên Tri Thức ( Ý Sáng tạo có nền tảng); ngược lại Tri Thức cũng là Thường kiến (ví dụ làm toán cộng trừ). Điều này xẩy ra rất bình thường, khi chúng ta có Tri thức Toán học, Triết học, Lịch sử… chúng ta cũng vẫn có Thường kiến trong các Khoa môn ấy kể cả  Khoa học Thực nghiệm..  và ngược lại.

Sự Giống mà Hơi Khác của Thường kiến và Tri Thức là độ chắc chắn và xác thực; nghiã là Thường kiến dựa trên bằng chứng hoặc những lý lẽ xác đáng làm cho chúng trở nên Tri Thức, những tuyên bố, những ý kiến không có căn cứ vững chắc, hoặc không dựa trên nền tảng nào thì chỉ là những thành kiến chủ quan vọng động của chúng ta và không trở thành Tri Thức được.

Chân Lý:

Nhu cầu của Trí Tri Ý là Truy tìn Chân Lý; Là Vấn đề cho đến nay vẫn là „nan giải“. của Nhân Loại. Do đó chúng ta cũng tạm chia làm 2 loại Chân Lý như sau:

 Chân Lý vùng miền

Là Chân Lý chỉ Đúng ờ Vùng này nhưng Sai hay không thích hợp ở Vùng kia, hoặc Miền nọ. Nó có thể đúng ở Phạm vi này nhưng sai ở Phạm vi khác; Đúng ở Không Thời Gian này không đúng ở Không Thời Gian khác. Vì thế Chân Lý Vùng miền thường bị và được chuyển dạng để trả lời cho các Câu hỏi ĐÚNG SAI!  Thắc mắc đúng sai; có ba loại hình mẫu  cho câu hỏi và trả lời .

  • Một là những câu hỏi và trả lời cho những điều hiển nhiên: Ví dụ, Cha mẹ sinh con cái, Kích thước Sinh vật trong tự nhiên ở Điạ cầu nhỏ hơn kích thước của Trái đất. (Thường Kiến)
  • Hai là những câu hỏi và trả lời có thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm và quan sát: Ví dụ, Nhiệt độ tốt nhất của cơ thể người là 37°C…(Tri thức)
  • Ba là những câu hỏi và trả lời phải tìm kiếm sự nhất trí của một nhóm người nào đó hay các nhà chuyên môn… hoặc ý kiến của đa số đồng thuận có thể được coi như là dấu hiệu cho thấy ý kiến đó có khả năng đúng nhất. Ví dụ: Đáp số của một Bài thi Toán; Trúng tuyển của một Thí sinh, Bầu cử Nhà Lãnh đạo …(Tri thức hay Thường kiến thụ động bị lệ thuộc vùng miền như luật pháp,phong tục,số đông..)

Chân Lý cuả mọi Chân Lý

Tuyệt đỉnh của Chân Lý Vùng miền là Chân Lý Tôn Giáo, là Lý tưởng thống nhất Tôn giáo hay Liên Tôn dẫn đến Sự thống nhất của Thần Học, Khoa học và Triết Học. Đây là vấn đề mà Nhân loại vẫn còn tranh cãi, thậm chí hoá thành chiến tranh nhưng vẫn không giải quyết được bởi vì Lý thuyết cho Mọi Lý thuyết (ToE) vẫn chưa thể tìm được huống chi là Tìm Một Chân Lý của Mọi Chân Lý.

Với DLVN nói riêng thì nòng cốt Triết học DLVN là học hiểu về Sự thật của Biến hoá Hoá Thành, là truy tìm Chân Lý Biến hoá; Vì thế Thiên nhiên Tự nhiên hay Tha nhân (Cái Nhiên) không phải là đối tượng, cũng không là đối thủ của Cái Ta trong Dòng Đấu tranh Sinh Tồn mà Đối tượng là Nhu cầu truy tìm Chân Lý cho Trí tuệ của Cái Ta trong dòng Sinh Tồn đó. Đây mới chính là cái biết đem lại an lạc và hạnh phúc cho muôn loài vạn vật đã, đang và sẽ hiện hữu: Cảm Thông Thiên Điạ.

Với Phật giáo thì mỗi sự vật trong thiên nhiên là một Chân Như, Phật Tử tu hành để tìm về Chân Như để thoát khỏi Tứ Diệu Đế. Chân Như theo quan điểm DLVN là Cái Ta, Thiên nhiên và Tha nhân đều có đồng một tánh KHTK Manh Nha Cực, đều mang trong nội thân Vô Cực Đức Tánh (Tú khí của Vũ trụ). Con người thấy có khác biệt thì đó là do cấp độ nhận thức GMHK tiến dần tới Quá khác, Quá quá Khác mà sự khác biệt được nhận biết nhiều ít. Do vậy người tu học tập luyện với PP của PK Biện Minh Chứng Nghiệm DLVN sẽ có ít hay nhiều nhận thức về tính chất Đồng nhi Dị này sẽ hiểu rõ cái Chân Như tức Cái Nhân bản, Vật bản, Sự lý bản trong Vũ trụ mà thôi.

 

Phân Hội Đức

Hạnh Thanh

Câp nhật xong giờ Vô vọng Tiệm Lý

DL 25/8/2018

 

 

Advertisements

phần thông báo

08/01/2011

XIN CÁC BẠN CHỜ CHÚNG TÔI


AL 07 tháng 3

Đốt ngọn nến, nến hết lửa tàn,

Thắp nén nhang lòng miên viễn trào dâng.

Nhóm Hưng dẫn VMDLVN

DỊCH LÝ VIỆT NAM HÀNH KHÚC

(Xin bấm vào Dich lý Hành Khúc để nghe)

Chân thành cám ơn Tác giả Nhạc sĩ Trịnh Long Tường

thongbao-11a

Xin bấm vào nội dung để đọc chữ  lớn hơn

 

thongbao-2b

Xin bấm vào nội dung để đọc chữ  lớn hơn


xinluuy6a
Xin bấm vào nội dung để đọc chữ  lớn hơn

 

ThongBaoNgungLop


Cao đẳng

08/01/2011

 

LyThuyet

TỰA BÀI

01

02

03

04

05

06

07

08

09

10

Ý Thức và Nhận Thức Con Người trong Vũ Trụ Dịch

Đại lược về Học Thuyết Tiên Hâu Thiên Trí Tri Ý Thức

Trí Tri Ý Cơ Cấu Vũ Trụ

Đường Đi Dĩ Nhiên Của Tạo Hoá

Kỷ Nguyên Mới

Xã Hội Âm Dương

Vô Tự Thiên Thư Kinh

Sách Vấn Đề Lý Học

Sách Dịch Lý Nhập Môn

Sách Vấn Đáp  Cao Đẳng

ThucHanh

 THỜI LINH

 TỰA ĐỀ

 TRANG

BỉTiêmTụng

ÍchBácT.Phu

ViteKyteGiải

TruânBácTuỳ

KhiêmGiảiKhôn

BỉTiêmTung

ĐNhânCấuLy

TổnPhụcDi

ThăngMuộiTĩnh

BỉTiêmQuan

ĐoàiCáchTuỳ

CáchCấuTuỳ

TuỳTiệmTruân

ĐSúcQMuộiTổn

ĐSúcQMuộiTổn

GiảiKytếVitế

CấnGiảiTiệm

BíGiảiDiDi

Thăm Bạn

Chận xe mãi lộ

Đèn Măng Xông

3 chữ 1 ý

Muốn đi may quần

Vợ chồng bất hoà

Bà Xẩm nuôi vịt

Chích thuốc bệnh nhân

Đại Đội Tập bắn

Tết đi phép

Bạn hẹn trễ giờ

Mua Sơn+Đinh

Đi xe đoán chuyện gì?

Sửa xoá lung tung

Rút thăm chia gác

Xe phóng thanh vào cổng

Hẹn trước rạp hát

Muốn đâu xe chỗ khác sợ trộm

002

003

005

008

032

089

092

095

122

123

139

140

141

160

164

166

177

178

DichLyTatCa

Một Dịch tượng nói cho nhiều việc

 Ví dụ 1Có 1 tướng lãnh nói rằng:” Bộ tham mưu đề cử tôi xuất binh ra trận chuyến này. Vị tướng muốn biết kết quả cuộc hành quân sẽ đi về đâu. Trang được Dịch tượng:

DiGiaiPhuc

Điạ Hoả Minh di; Lôi Thuỷ Giải; Điạ Lôi Phục  Ý là  Hại đau, nơi nơi, trở lại

 Người học Dịch nhìn hiểu quái tượng như vậy thì có thể đoán rằng: Chuyến đi thì không sao nhưng có lẽ bị thương tích (hại đau) trên bước dường trở về (trở lại).

Quả thật vị tướng bị bích kích pháo (hại đau) chỗ giáp mối nớc của các kinh rạch lưu thông (nơi nơi) trong khi trở về (trở lại).

Ví dụ 2Tôi thường đến nhà một người bà con, bỗng nhiên một hôm nghe người bà con nói rằng: Tôi trông chờ chú đến để hỏi chú  một việc, vậy mà bây giờ gặp chú thì tôi lại quên, không nhớ ra việc gì. Tôi mở quẻ ra xem cũng là: Hại Đau, Nơi Nơi, Trở Lại. Rồi tùy theo tình trạng cá nhân, tôi nói: phải chăng cháu muốn hỏi chú về bịnh hoạn của cháu (hại đau) món thuốc để trị về huyết quản lưu thông (nơi nơi) để bồi bổ lại sức khỏe (trở lại).

À đúng rồi! Sao chú biết!

 Ví dụ 3:  Cùng Dịch tượng Hại Đau, Nơi Nơi, Trở Lại áp dụng vào một trường hợp như sau: Có người bạn là nhà thương mại ở đô thành đến chơi cùng nhau đàm đạo. Sau khi câu chuyện đã gần tàn bỗng nhiên hỏi rằng;” Người học Dịch như anh có thể biết được hiện giờ tại nhài tô có việc gì xảy ra không?” Tôi liền lấy được Dịch tượng như trên: Hại Đau, Nơi Nơi, Trở Lại và áp dụng vào hoàn cảnh đô thành thương mại ban đêm, theo thời đại hiện hữu và bảo rằng: ” Có bóng đèn không cháy (hại đau) nơi bảng quảng cáo của anh (nơi nơi) mới vẽ lại đó (trở lại).

Quả nhiên anh ta trở về nhà lấy làm lạ thấy y như thế.

Nhiều Dịch tượng nói cho 1 việc

Có 1 văn phòng thương mại (VPTM)của 1 tư nhân đã cất trên 1 khoảng đất dính liền với nhiều căn khác.

Bữa nọ người chủ văn phòng thương mại ấy nói chuyện với nhà Dịch học, người học Dịch mở quẻ  ra xem được quẻ nào đó…Đến vài hôm sau lại hỏi chuyện về văn phòng ấy nữa, người học Dịch mở quẻ ra xem lại và được quẻ khác. Như thế kết qủa sự việc lại thay đổi hay sao?

Để trả lời câu chuyện ngộ nghĩnh này là số phận của 1 văn phòng thương mại vẫn còn ở vị trí cũ. Thế mà ở trong Dịch lại đổi chỗ của nó, thật là vui lạ.

Chắc quý vị rất tức cười trước khi đọc, có lẽ cho là vô lý, mà thực ra chính lý , chúng ta và muôn loài cũng bị đổi chỗ như thế mà không hay biết .Chúng ta ai ai cũng đều có thể cả tiếng lên rằng : Tôi là người , là thông thái, là bác học, là chuá tể muôn loài . Tôi có quyền thế, tôi có đất, tôi cất nhà trên đất tôi , vị trí tôi đã đặt ai đổi chỗ được , nếu tôi không phá huỷ , tôi không đổi nó, vậy thì ai đổi nó, sức huyền diệu nào dẫn dắt ta ? Hành động nào chỉ huy ta và cả vũ trụ ?

Đáp rằng : chúng ta chúng ta và muôn loài vạn vật có biết đâu trong cái tôi nhỏ nhít ấy hắng giây hằng phút , hằng vô giây còn có cái Lý Động Tĩnh đổi ta đổi cả nhà ta và thân xác ta ra thế khác , chi phối khắp nơi cùng tất cả muôn loài vạn vật đều bị Lý Động Tĩnh  chỉ huy .

Đây là câu chuyện văn phòng thương mại bị DỊCH đổi chỗ của nó mà nó vẫn trơ trơ chỗ cũ .

KhachSanLuDonTrang quẻ lần 1 được Thiên Sơn Độn, Thiên Phong Cấu, Hỏa Sơn Lữ. Lý vô tư đọc lên là lui ẩn, câu kết, đỗ nhờ.

Nhà Dịch học nói rằng: VPTM  ấy lui thụt (lui ẩn) mà dính liền vách (câu kết) với cái khách sạn (đỗ nhờ).

Trang quẻ lần 2 cách vài hôm sau được: Hỏa Sơn Lữ, Trạch Phong Đại quá, Thiên Sơn Độn. Lý vô tư đọc lên là đỗ nhờ, cả quá, lui ẩn.

Nhà Dịch học nói rằng: Khách sạn (đỗ nhờ) xây cất to quá (cả quá) mà thành ra khuất ẩn văn phòng thương mại (lui ẩn).

Trang quẻ lần thứ nhất ta thấy văn phòng thương mại ẩn lui vào liền vách với quán trọ.

Trang quẻ lần thứ hai thì ta thấy quán trọ to quá làm khuất văn phòng thương mại. Nhưng tựu trung đều đúng cả,  2 cái mới sinh ra Lý , Lý là khởi ở từ có 2 cái .

Liên quan giữa Chánh, Hộ, và Biến quái.

         Chánh Hộ Biến có liên quan mật thiết với nhau thành 1 cục diện diễn biến cũng như 1 sự việc của chúng ta ở ngoài đời khi đã có khởi đầu cuộc thì ắt phải có trung cuộc và kết cuộc. Lý đương nhiên của mọi vật mọi việc đều như vậy, cho nên người học Dịch không được phép bỏ qua các ý tượng của tam quái.

Ví dụ 1Đang ở nhà được 1 điện tín báo rằng:” Chồng em chết đem xuống 2.000 $.” Nếu chúng ta không học Dịch thì điện tín ấy đã mang cho chúng ta một không khí buồn lo trong gia đình. Ngược lại khi đã học Dịch rồi thì chúng ta mở Dịch ra xem, được Dịch tượng

GiaiSu        Ta dùng cái lý ấy mà tan vào bức điện tín kia thì sự thật chồng của em mình đâu có chết, nó chỉ là loan tin để cho mình đến mà giúp đỡ nó.

Khi chúng ta đã lĩnh hội được lý của Dịch; rồi dùng xài với tấm lòng vô tư thì có lúc, thoát khòi được việc bí ẩn muốn đánh lạc hướng chúng ta.

Ví dụ 2Có người đến khóc lóc: “Con tôi nó đã bị bắt .” Người học Dịch không được phép hoang mang theo lời nói hoặc sự khóc lóc của họ, mà phải cầm lòng cầm trí trang Dịch tượng thì thấy:

Thuỷ Sơn Kiển; Hoả Thuỷ Vị Tế;

Ý nghiã là trờ ngăn, thất bác, hợp cùng.

 Kế đó đem tán cái ý nghĩa ấy vào việc người bị bắt là bị chặn không cho gặp nhau hợp nhau. Gặp người thông minh (học Dịch) thì thấy rõ đầu đuôi câu chuyện như sau: Phải rồi, nó chận bắt con bà trước cửa (trở ngăn) lúc chưa kịp (thất bác) bước vào nhà (hợp cùng). cho nên dầu vậy con bà cũng vẫn xin phép vào nhà được và báo tin mình bị chân bắt trước cửa. Cũng thể theo lý ấy bằng: một tinh thần vô tư, chúng ta nói rằng: bà hãy nén lòng chờ đợi, vì có sự cản ngăn (trở ngăn) nhưng con bà phải vắng mặt ít hôm (thất bác) rồi sẽ đươc thả ra mà trở về (hợp cùng).

Quả nhiên vài ngày sau trở về.

            Ví dụ 3Bạn ngồi nhà nghe tin có hội thể thao bóng tròn ngoại quốc sẽ đến đấu giao hữu với hội nhà ngày nào đó. Trang được Dịch tượng:

Trạch sơn Hàm, Thiên phong Cấu, Trạch hoả Cách 

nghiã là thụ cảm, cấu kết, thay đổi.

Bạn có thể hội ý, rồi hoà nhã mà nói rằng: tôi cho tin ấy là không chắc vì rồi đây có sự thay đổi. Quả nhiên thiên hạ được tin (thụ cảm) về công cuộc gặp gỡ của 2 hội bóng tròn (cấu kết) xin dời lại qua ngày khác (đổi thay).

 

BaiDocThem

TÀI LIỆU THƯC TÂP LỚP VĂN MINH DỊCH LÝ VIỆT NAM


01.- THỜI TRỜI

Mùng 01 tháng Giêng năm Tân Mão (Thứ Năm 03/02/2011).

Ngày Kỷ Sửu tháng Canh Dần – Giờ Tý – Đón Giao Thừa.

‐        Nhằm Dịch tượng quy ước Thủy Sơn Kiển (Trí Tri Ý Siêu Hiển), thuộc Bát Thuần Đoài, Âm Kim .

‐     TRỞ NGẠI (KIỂN) Cản ngăn, chận lại, chậm chạp, què quặt, khó khăn, Nạn tai .

‐     Chưa thể,  chưa còn (VỊ TẾ) .

‐    Thực hiện, thể hiện được (KÝ TẾ) .

‐    Mọi Sự vật Sự Việc Sự Lý đều Bị và Được trở ngại, trăn trở, Thủy ách  từ trên   đổ xuống, Hỏa ách từ dưới trào lên, từ trong ra ngoài, từ dĩ vãng kéo dài tới hiện nay (Kiển: bất năng tiến thoái chi tượng). Vì lý lẽ của Thiên ý ấy, cho nên:

  • Kiển động: Có sách lược Răn đe, Phòng thủ (Kiển).
  • Sách lược: Răn đe (Kiển) mà không (VịTế) thực hiện (KýTế).
  • Chiến lược: Phe nào (Ký Tế) cũng phòng thủ (Kiển), Người người (Ký Tế) thủ thế, tự bảo vệ (Kiển), chưa có (Vị Tế) thì Tìm cho được cách (Ký Tế) để phòng thủ (Kiển).

02. BIẾN THÔNG: (để tiến về THIÊN Ý).

A- Ý NGHĨA SƠ LƯỢC CỦA TƯỢNG KIỂN:

Biến thông danh Ý tượng Dịch KIỂN:

Bât năng tiến dã chi tương

Không thích đi, khó đi, khó di chuyển….

a/ Phạm-vi vật thể: Xe lăn, cây gậy, rào cản, răng khểnh, người què, cụt chân, teo chân, co rút, teo lại, thắt nút, thắt gút, buộc gút, cò cò, cà nhắc, khập khiễng, khập khểnh, khó tiến tới, khó lùi lại, chậm tiến, què quặt, Nước chảy đá mòn, Có công mài sắt có ngày nên kim, ….

ă/ Phạm-vi tình cảm: e, ngại, e ấp , e dè, e ngại , dùng dằng, tình duyên không suông sẻ, bỏ thì thương vương thì tội, không đơn giản, lòng vòng, lẩn quẩn, e thẹn, ngại ngùng, e sợ, ….

â/ Phạm-vi Ngăn trở: lực cản, phản lực, trăn trở, trắc trở, cản trở, điện trở, trằn trọc, trở ngại, chướng ngại vật, đắp mô, cản đường cản lối, thác ghềnh, gập ghềnh, chông chênh, kỳ đà cản mủi….

b/ Phạm-vi Bảo vệ: Cái nạng, cái chống, rào cản, vật cản, hầm chông, răn đe, bóp nghẹt, Lớp Ozon, Da  lông, Xương ….

b/ Phạm-vi Đạo lý: Không có Lực Cản, không có Lực đẩy, phải có hai cực bắc đẩy nhau (hai nam châm cùng cực đẩy nhau), không có can ngăn, ngăn cản, tức không cần tái lập luật Quân bình, không cần luật pháp làm trở lực cản ngăn trộm cướp, cướp trộm, không cần có Tôn giáo ngăn cản dục vọng, giới hạn ác tâm, không cần luân thường Đạo lý làm bộ ngăn cản (trục chân giả của Kiển) nạn buôn người…, cải tổ Liên hiệp quốc kiểu chậm hơn sức tiến bộ của công dân hành tinh…

Ă- Ý NGHĨA SƠ LƯỢC CỦA TƯỢNG VỊ TẾ:

Ưu trung vọng hỉ chi tượng.

Trong cái lo có cái mừng.

Trong cái chân thật hàm chứa dẫy đầy giả dối.

a/ Phạm-vi tình cảm: Thất vọng, thất tình, đổ vỡ, dang dở, ương gàn, gàn bướng, hàng hai, ba phải, rẻ tiền, ……

ă/ Phạm-vi diễn tiến: Ngả nghiêng, chênh lệch, chênh vênh, lưng chừng, bỏ dở, ba rọi, ba trợn, lừng khừng, chưa xong, chưa hoàn tất, ngâm tôm, trì hoãn, chưa đúng, sai lạc, sai số, .…

â/ Phạm-vi vật thể: Dở dang, lở dở, tiền chế, Cao su sống, thịt cá ươn, thất cách, thất bại, hao mất, ….

b/ Phạm-vi Đạo Lý: Vị Tế là Đạo lý Không bao giờ xong, là Đạo lý của sự Dở dang Là Hy vọng trong tuyệt vọng, là nằm mơ giữa ban ngày, là biết chưa xong, khó thành công…..

Â- Ý NGHĨA SƠ LƯỢC CỦA TƯỢNG KÝ TẾ:

Hanh tiểu giả chi tượng. Việc nhỏ ắt xong

a/ Phạm-vi Kinh tế: Hợp tác, hợp đồng, kết hợp, thông đồng, móc ngoặc, bè Đảng, bè lũ, phe phái, phe nhóm, ….

ă/ Phạm-vi Diễn tiến: Hiện hợp, hiện thời, hiện tại, hiện hữu, hiện thực, hiện có, tập hợp, hợp lý, hợp tình, hợp lẽ, thích hợp, hợp ý, hợp tác, hợp sức, thực hiện, thực trạng, thực hành, Việc nhỏ, thành công nhỏ, ăn ý, ăn khớp, ….

â/ Phạm-vi không gian: gọn ghẽ, gọn lỏn, ngay chóc, trúng đích, ….

b/ Phạm-vi Tánh tình: Đúng đắn, nghiêm túc, nghiêm trang, Thực tế, thực dụng, ….

c/ Phạm-vi Đạo Lý: Đạo Vũ Trụ liên hệ Vô hữu chằng chịt ẩn hiện lên xuống, là do công đức của Ký Tế là Luật Đồng Thanh Tương Ứng Đồng Khí Tương Cầu tương tác tương hỗ tương hợp; là Đạo của ÂD Đồng Nhi Dị 01 mà phải là 02 giống mà hơi khác vậy.

02- TIÊN ĐOÁN:

a/ Phạm-vi Thời khí:

  • Năm 2011, một năm chịu bão tố, thủy tai, thủy ách nặng nề và phải nhận chịu hiểm nạn từ trên cao (Sơn), những tảng băng tuyết (Thủy) ở Bắc cực (Thủy) bị và được đổ xuống gieo xuống (Kiển-nước đổ trên vách núi xuống). Nó có thể gây ra bão lụt, lụt lội, có thể thành đại hồng thủy nối tiếp trận hồng thủy vừa xảy ra trong năm tại Đông Bắc Úc châu. Bức xạ Sóng Từ (Kiển) của mặt trời tăng mạnh vì Tầng Ozon (Kiển) của Trái đất mỏng không còn (Vị Tế) liền lạc kết hợp (Ký Tế).…
  • Động đất, Lở đất (Kiển) sẽ xảy ra khắp nơi kể cả những nơi chưa từng bị (Vị Tế) cũng sẽ bị (Ký Tế). Núi lửa (Hỏa) duới đáy nước biển (Thủy) phun lên (Ký Tế) cũng sẽ gây ra nhiều cơn Sóng thần nguy hiểm (Kiển). Vậy Thời tiết năm 2011 còn ương ngạnh (Kiển) khốc liệt hơn năm 2010 nguy hại đe dọa loài người, loài người cùng nhau (Ký Tế) tìm mọi cách tự bảo vệ (Kiển) mà chưa được (Vị Tế).  Do đó lương thực sẽ khan hiếm (KIỂN).
  • Nạn Dịch tễ (Kiển) sẽ hủy hoại hàng loạt làm chết đi (Vị Tế) nhiều giống loài hiện nay (Ký Tế). Coi chừng vi trùng bịnh về da, tóc rụng, răng, sưng nướu răng bị hoành hành trong năm nay (KIỂN).

ă/ Phạm-vi Kinh tế:

  • Do sự bất công Lợi nhuận (Kiển) giữa giới chủ và thợ không giải quyết được (Vị Tế) nên lý tưởng Toàn Cầu Hoá (Ký Tế) chưa (Vị Tế) hình thành tốt đẹp (Ký Tế) như ước mơ. Ngược lại, sẽ làm nhiều Tập đoàn Kinh tế, và Ngân hàng phá sản (Kiển – Vị Tế).
  • Chính sách Thắt lưng buộc bụng (Kiển); giảm thiểu mức sinh hoạt (Kiển) tuy chưa (Vị Tế) lộ rõ (Ký Tế) nhưng sẽ bắt đầu trở nên  (Ký Tế) ngày càng rõ với cả người dân các nước giàu có, do đó Kinh tế các nước giàu sẽ có nguy cơ (Kiển) đứng bên bờ vực vực thẳm vì Khủng hoảng Cung cầu (Kiển) và Mậu dịch (Ký Tế).
  • Quốc gia nào cũng mong xuất khẩu cho nhiều tạo tình trạng bán ra nhiều mua vào ít, do đó cán cân Mậu dịch mất thăng bằng gây trở ngại lớn (Kiển) không thể (Vị Tế) quân bình lại được luồng giao dịch toàn cầu để không nuớc nào đạt xuất siêu hay bị nhập siêu quá lớn (Ký Tế). Vì vậy chiến tranh ngoại hối và tranh chấp mậu dịch (Kiển) là chuyện kiến ăn cá cá ăn kiến (Vị Tế) chắc chắn sẽ xảy ra (Ký Tế) trong năm nay.
  • Các nước nghèo (Kiển) phải thực hiện việc (Ký Tế) bán khoáng sản, phải khai thác khoáng sản dù biết bất lợi thất cách (Vị Tế) vẫn phải làm để trả nợ, còn gọi danh cung cấp (Ký Tế) cho các nước giàu đang khan hiếm (Vị Tế) nhu cầu nguyên liệu để Chế tạo Cơ khí, Vũ khí… Sự Nguy hại về môi sinh môi trường (Kiển) như do khai thác Bauxit ở Hungarie, ở Phi Châu và ở Việt Nam vẫn chưa ngừng (Vị Tế) mà còn sẽ tiếp tục (Ký Tế).
  • Công nhân các nước nghèo có đời sống quá khó khăn (Kiển) chưa có (Vị Tế) phản ứng mạnh thì cũng sẽ bùng nổ phản kháng (Kiển) trong năm nay, vì họ càng ngày càng thấy rõ (Ký Tế) sự bất công (Kiển). Do đó xã hội sẽ bị khủng hoảng! (Kiển).
  • Kinh tế VN sẽ rất khó khăn (Kiển) trong năm nay vì nó dở dở ương ương (Vị Tế) cho nên sẽ bị  kiệt quệ (Vị Tế) và không có gì thành công (Ký Tế). Nợ nần vay mượn quốc tế là trở ngại lớn nhất (Kiển) vì không (Vị Tế) minh bạch (Ký Tế) cho nên sẽ tạo rối ren bất ổn (Kiển). Những người trách nhiệm, muốn nói thật (Ký Tế) cũng không dám nói và không biết nói (Vị Tế) sẽ nói láo (Vị Tế) thay cho lời  nói thật (Ký Tế); rất đông người Dân sẽ lo ngại (Kiển) vì chưa biết (Vị Tế) gánh nặng này sẽ đổ lên đầu mình nặng bao nhiêu và ảnh hưởng đến con cháu như thế nào (Ký Tế).

â/ Phạm-vi Chính trị xã hội:

  • Đời sống của con người trong Xã hội lừng khừng, dùng dằng trở ngại (Kiển) Công ăn việc làm vẫn còn tiến thoái lưỡng nan          (Kiển)… chẳng đâu vào đâu (Vị Tế) nên chưa (Vị Tế) thực hiện được (Ký Tế).
  • Do ảnh hưởng thời khí ngặt nghèo (Kiển) nạn khan hiếm lương thực (Kiển), và sản xuất lương thực sẽ thất thu (Kiển) gây thiếu ăn, gia súc sẽ chết vì dịch bệnh (Kiển) ở rất nhiều khắp nơi (Ký Tế) nạn đói (Vị Tế) sẽ xảy ra (Ký Tế). Gây Khủng hoảng Chính Trị Xã hội lạ lùng (Kiển Đằng xà) chưa từng có (Vị Tế) sẽ phải xảy ra (Ký Tế).
  • Tình Lý Wikileaks: Do Mâu thuẫn quyền lợi Kinh tế (Kiển) đã đầy dẫy trong lòng nhân loại, giữa nước giàu nước nghèo, nước mạnh nước yếu, giữa người giàu người nghèo, giữa chủ và thợ; đã dẫn đến (Ký Tế) Mâu Thuẫn Chính Trị (Kiển) và vì phải thực hiện (Ký Tế) cho được việc san bằng mọi trở ngại Kinh Tế Chính Trị (Kiển) này, cho nên các Chính trị gia và Đại gia tư bản khắp thế giới đã phải nhập cuộc (Ký Tế) (hợp tác của mọi ngân hàng to đùng và Hội nghị Thượng đỉnh G-20 tại Seoul và Yokohama) hy vọng phá tan trở lực (Kiển) đang làm suy sụp kinh tế (Vị Tế) bởi lẽ dễ hiểu: Nếu Thực hiện (Ký Tế) được để có một Tin Tối mật tung ra thì tốn rất nhiều tiền… hay Cản trở (Kiển) MỘT Tin tối mật – không cho lọt ra (Vị Tế) thì cũng sẽ mất nhiều tiền… Tiền mà lưu thông to lớn như vậy, thì thị trường chứng khoán sẽ lên theo. Cho nên mưu toan đen tối (Thủy) của những ngưòi này là một phe muốn bịt miệng (Cấn) sự thật đối với phe khác và ngược lại, nên Con Rối Wikileaks (Kiển) đã bị và được đẩy ra công bố (Ký Tế) các mật thư đều là chuyện xuất phát từ cả hai phía. Sự Việc của Wikileaks đã tạo ra những nghi vấn (Kiển) Ai thực sự đứng đằng sau chỉ đạo việc biên tập? Đăng tải nội dung gì và khi nào? Đăng với mục đích gì? Ai là kẻ hưởng lợi? Ai là kẻ chịu thiệt thòi? thì chưa rõ ràng (Vị Tế) vì cần được phơi bày (Ký Tế) như: Liệu  có thế lực kinh tế quốc tế đứng sau vụ việc này? Liệu đây có phải là một chiêu bài chính trị mới? (Ký Tế).                          .
  • Tóm tắt: Hiện tượng Wikileaks là một trong nhiều biện pháp thực hiện (Ký Tế) cứu vãn kinh tế suy thoái (Vị Tế) may ra bớt ách tắc (Kiển), chớ cũng chẳng có gì lạ cả. Nó nhằm trấn an các Quốc gia đừng lo tích trữ tiền tệ (Kiển), nên cho tiền lưu thông để khỏi trở thành giấy lộn (Vị Tế), hãy bớt in tiền tránh lạm phát (Vị Tế) – Vậy Wikileaks là con rối (Kiển) Chính trị Kinh Doanh (Ký Tế) chứ không liên hệ gì tới Tự do Ngôn luận đâu. Khi xong việc (Ký Tế) lợi dụng con rối (Kiển) dở hơi lẩn thẩn (Vị Tế) này thì sẽ tiếp tục tạo con rối khác (Kiển) cho bản bi hài kịch (Vị Tế) mới khác !!!.. Âu đó chỉ là TRỤC Chân thật nhiều Giả dối ít hoặc Giả dối nhiều Chân thật ít , vì loài Người đối đãi với nhau trên trục Âm Dương Chân Giả Lý – Tại vì sao có Trục Âm Dương Chân Giả ? ( xin xem Sách vấn đáp về Văn minh Dịch Lý Việt Nam—hoặc Văn Minh Dịch lý Việt-Nam ắt biết rõ ngay )

Xem tiếp Nguyên bản>>>


Trung đẳng

08/01/2011

TrungDang

LyThuyet

TỰA  BÀI

01

02

03

04

05

06

07

08

09

10

Nguyên Lý Đồng Nhi Dị

Lý Trí Tánh Truy Nguyên Hoàn Nguyên

Đạo Cực

Đức Tự hữu Manh Nha

Luật Diễn Tiến

Thần Thức và Đức Thần Minh

Lý Tính Động Giao Cảm Sinh

Ngũ Thần

Sách Văn Minh Dịch Lý Việt Nam

Sách Vấn Đáp  Trung Đẳng

 ThucHanh01

THỜI LINH

TỰA ĐỀ

TRANG

Tiệm – Quan

Quan – Bỉ

Đ.Súc-T.Súc

Tấn – Bác

Di – Phục

Tụng – Bỉ

Cấu – Kiền

ĐSúc-T.Súc

Khuể – Tổn

Tấn -Bác

Tấn – Bác

Tuỵ – Bỉ

Bỉ – Tuỵ

Khuể-P.Hạp

Cổ – Th.Tốn

Độn – Bỉ

ThCấn-Tiệm

Khôn – Bác

Hằng-Giải

Lý-Tr.Phu

Khốn- Tuỵ

Di-Phục

Hoán-Quan

Tráng-Muội

Đoài – Tiết

Lý-Vô vọng

Lâm – Phục

Vào tiệm cơm

Mắt kiếng

Cái gà mèn

Gặp Thầy không?

Xếp đặt đồ đạc

Cái Bàn Ủi

Vá quần

Nhà Sách Khai Trí

Đi Long Khánh

Phóng xe đi mượn sách

Nói không lại đến

2 thẻ gởi xe

200$ mua đinh

Theo chị đi sửa răng

Xuống phòng làm răng

Đặt may Quần

Đoán mặc áo gì (LT)

Đoán mặc áo gì 2

Dì Năm Tây ninh

Dich lý huyền diệu

Đò Thủ Thiêm

Thanh Tra lớp học

Thăm bạn ở Phú Thọ Hoà

Trả lời sai Germ và Gerbe

Bạn đã mua giúp chưa

Nhờ trung gian mua máy

Mời nhau tới nói chuyện Dich

 13

15

30

37

41

47

106

108

109

126

128

131

135

143

144

146

148

153

154

157

170

173

175

176

181

183

186

ThucHanh

02

THỜI LINH

TỰA ĐỀ

TRANG

186

UngDungVDCTBảo vật vô giá này là 1 cái biết khắp muôn trùng. Bạn nào có tính hay tò mò muốn nhìn biết được tất cả mọi việc khắp mọi nơi thì Dịch sẽ trả lời tất cả. Lúc nào cần bạn cứ mở ra thì biết liền và có thể hay biết được nhiều điều lạ lùng. Muốn đến được tinh diệu thì phải biết thích nghi trên mọi hoàn cảnh, mọi vật, mọi việc.   Trước hết chỉ nói Dịch do chánh quái tinh vi rồi, hãy tập nói chánh  và biến . Sau cùng đã nhuần nhã về chánh và biến rồi thì tới tam quái(chánh hộ biến) liên quan.

Nói Dịch do chánh quái và biến quái.  

Ví dụ 1Bữa nọ đang lúc đi đường, bị ngừng lại tại cổng xe lửa. Vì có 1 chiếc xe sắp chạy ngang qua trên đường rầy. Bỗng nhiên lòng bạn muốn biết hoặc có người quen hỏi đố rằng: Tiên sinh hãy nói thử coi loại xe nào sắp chạy ngang qua đây. Biết rằng: Trên đường rầy có 2 loại xe: 1 loại xe sạch sẽ và 1 loại xe không được sạch lắm. Thế rồi bạn tính ra Dịch tượng là Thuần Đoài động hào nhị, biến quái là Trạch Lôi Tùy. Doai Tuy

Bạn nói ngay là xe đẹp, di động (di chuyển).

Ví dụ 2Cũng bị ngừng lại tại cổng xe lửa, bạn tính ra Dịch tượng là Hỏa Phong Đỉnh động hào ngũ, biến ra Thiên Phong Cấu.

Bạn nói ngay là đầu máy chụm lửa có móc nối (các toa xe).

Ví dụ 3Cũng bị ngừng lại tại cổng xe lửa, bạn tính ra Dịch tượng là Hỏa Sơn Lữ, động hào sơ biến ra Thuần Ly.

Bạn nói ngay là hôm nay nó chở hành khách nhà binh vì qủe Ly là quân nhân.

Nhưng người học Dịch phải biết thích nghi với hoàn cảnh xã hội, thời đại, tùy thời mà biến Dịch thì mới có một sức hiểu biết phi thường là đạo biến thông thiên địa, cảm thông cùng tất cả muôn loài vạn vật hợp cùng Trời Đất qủi thần, mà không bị sai trật. Ví dụ như quẻ Lữ biến ra Thuần Ly đó, nhằm sự thích nghi của nó thì bạn  lại nói rằng: hôm nay có khách chở văn nhân. Đó là sự huyền diệu của Dịch, học giả phải biết biến thông , mới nói Dịch đúng được.

 

BIẾN THÔNG THIÊN ĐỊA TẤT YẾU

Phàm người học Dịch đều nên biết (Tất yếu) : Mỗi vật đều có một thân hình, mỗi thân hình đều có âm dương, thượng hạ, tả hữu. Khi một dịch tượng đã tính xong là sáu vạch. Thành sáu vạch là thành một Quái Lý, Quái Tượng. Quái Lý đó đối với người nói Dịch, học Dịch, giảng Dịch, thường thường phải ví như là một trạng thái, một cảnh huống, một sự kiện, một khí vận, một vận thế… Dịch Học Sĩ phải nhân Quái Lý ấy mà điều lý trên bất cứ vấn đề nào, có biến thông được như vậy thì mới rõ được cơ vi động tĩnh khắp muôn phương. Chỉ có một Quái Lý rồi người học Dịch đem Quái Lý đó soi vào trên mọi sự, vật, việc mà hội lý quán thông. Biến thông thấy biết được là do ở lòng vô tư. Vô tư có được là do ở tu tâm dưỡng tánh, càng trau dồi thì đức Thần Minh càng tỏ rạng, có thể thấu suốt muôn trùng. Muốn thấu suốt muôn trùng thì trước phải học biết cho rõ nghĩa lý của mỗi Quái Tượng (dịch tượng). Mỗi ngày phải theo dõi quái nghĩa để nhìn biết hiện tượng, ý tượng của quái lý mỗi giờ mỗi khác. Nhiều ngày như vậy thì mở rộng được kiến thức. Người đời khó đạt được dịch là tại chẳng học dịch lý, mà lại chỉ học từ chương chết nghĩa. Và cũng bởi chưa hiểu rõ ràng nghĩa lý của từng quái một mà đã vội vã đi sâu vào dịch. Rốt cuộc sẽ mất lý, mất đường lối, rồi mất lòng tự tín mà đâm ra chán nản cũng nên. Dưới đây là ví dụ nêu ra để làm dường lối học Dịch và cũng là phép BIẾN THÔNG TẤT YẾU cho người học Dịch và muốn nói Dịch. Trong cõi trời đất minh mông bát ngát mà lòng người hay ta có lúc muôn biết cớ sự động tĩnh ra sao, năm nay, ngày nay hoặc giờ nào tùy lúc muốn biết thì Dịch sẽ trả lời ngay trong khi bạn tính xong một dịch tượng. Biết rằng mỗi người là một trường hợp, đứng trong một cuộc diện hay cục bộ khác nhau mà nguyên lý thì chỉ có một. Cái chỉ có một ấy nay xin dẫn chứng sơ mọn dưới đây. Ví dụ: Ta tính được dịch tượng là Hỏa Sơn Lữ, quái nghĩa là Khách dã, cứ theo khoa Động Tĩnh học thì bạn biết là Khách động, hoặc suy xét về trong nhà thì người ở đậu có chuyện, suy về nhà quán thì là quán trọ, quán nước, tiệm hớt tóc có chuyện, suy về tĩnh vật trên một chiếc xe là cái yên phụ để chở thêm, suy về xuất dương cư ngụ là ngoại trú, suy về sự thể là tạm ghé… đại khái cái nguyên lý của nó là Khách dã, là đỗ nhờ, tá túc. Biết thích nghi với hoàn cảnh, xã hội, thời đại, thì biết được việc xảy ra cho chính mình hay cho người khác. Sở dĩ biết được chính xác là vì mỗi khi đã tính xong một dịch tượng, trước tiên nên xét thế vị thân mình, nếu không có lý đó với dịch tượng đó, thì phải xét đến bàng cận vãng lai, thứ mới đến bổn xóm, rộng ra nữa là làng tỉnh của mình đang ở, hơn nữa là một quốc gia hay quốc tế. Cứ từ từ mà xét ắt sẽ thấy được quái lý đó thuộc về cho mình hay bàng cận thân thích, bổn xóm, hay quốc gia, thế sự, đạo lý, vv… Khi chưa tính xong dịch tượng mà lòng người hay ta muốn biết trong năm nào thì dịch tượng khi tính xong có nghĩa trong năm đó. Nếu trước muôn biết trong ngày nào, giờ nào thì dịch tượng có nghĩa cho ngày đó, giờ đó vv…

THIÊN QUAN THẾ GIỚI HỆ ĐỒ

        Thiên quan thế giới hệ là khắp hoàn cầu đều sống trong vòng nhật nguyệt tinh thần hoặc muốn lấy ngày làm đêm, đêm làm ngày cũng đều là ảnh hưởng không khác được, vẫn phải đứng trong vũ trụ Dịch, trong luật của Tạo Hóa. Bạn có thể áp dụng Động Tĩnh Công Thức Toán Pháp nhưng phải biết nhìn. Sau thời kỳ nhuần nhã thì chỉ ở trong lòng bàn tay chớ chẳng có gì là khó khăn cả.

 ThegioiHedo

CÁCH NHÌN BẢN ĐỒ

            Thí dụ hôm nay ở Việt-Nam giờ Tý, dịch tượng là Địa Thiên Thái, vòng vuông ở trong, nhưng trên 1 xứ khác đã đến giờ Ngọ, và rồi cùng trong ngày đó ở Việt-Nam khi mặt trời đến giờ Ngọ thì Việt-Nam có dịch tượng là Địa Sơn Khiêm thì cái xứ có giờ Ngọ khi nãy sẽ có dịch tượng là Thiên Trạch Lý ở vòng tròn ngoài (giờ Tý), còn ở sau Việt-Nam là Địa Trạch Lâm giờ Dậu, Địa Lôi Phục giờ Hợi.

BaiDocThemKhoaHocDuBao Là nghệ thuật mô tả chính xác Lý lẽ Biến động Biến đổi của mọi Sự Lý đã , đang và sẽ Biến hóa Hoá thành chúng ta gọi là Dự Đoán , Dự Báo hay Tiên đoán…Lý lẽ Diễn tiến Biến Động Biến Đổi và Biến Hoá này đã được Tiền Nhân Thánh Trí khám phá và chỉ để lại những Hình Đồ Vô Tự cho Hậu thế; vì thế nó đã được và bị diễn dịch tùy theo ý riêng theo thời đại từ  nhiều ngàn năm qua . Để mô tả lại chính xác Lý lẽ này; DLVN thừa hưởng Tú khí Anh Linh Rồng Tiên và Văn minh Âu Lạc đã làm sống lại Ý Lý  của Tiền Nhân và nay  trao đến các Bạn chìa khoá mầu nhiệm để gỡ rối sự Biến Hoá đã trở thành muôn trùng phức tạp , đa hình đa dạng thể hiện ở  rất nhiều  phạm vi phạm trù trong Vũ Trụ Vô Hữu .

1. BIẾN THÔNG

Biến thông là việc quan trọng nhất trong Dự Đoán , Biến Thông  là chọn một Danh Được Lý từ một Danh Lý của Trí Tri Cơ Cấu ( Trí tri Cơ Cấu là diễn tiến Hoá thành của một Cấu tạo Hoá thành) . Ta biết rằng có rất nhiều Danh Được Lý do sự Phát triển của Ngôn ngữ do đó phải tuỳ theo phạm vi mà Danh Đưọc Lý được ta chọn lựa ấy sẽ thích hợp để tương ứng với  Lý Lẽ của Tượng Dịch tức Danh Lý của Tượng Dịch . Chúng ta theo dõi một hoạt động của Trí Tri Ý khi Biến Thông như sau :

  • Ý Tượng Dịch Tiểu Súc : Có ý lý là sự nhỏ mọn, sự bế tắc, không đồng ý nhau, cô quả, súc oán, chứa mối oán giận, có ý trái lại, không hòa hợp, nhỏ nhen. Bên trong đã chứa đầy đủ, đầy ắp rồi  ( Kiền) bên ngoài muốn nhét vào nữa (  Tốn) thật khó khăn nhét vào, nếu được thì chỉ còn nhét CHÚT ÍT mà thôi. Vậy, chỉ còn chứa được CHÚT ÍT , CHÚT XÍU ..
  • Luyên tập Linh hoạt Biến Thông: từ một số Các Danh Được Lý trong ví dụ trên (VDCT) người luyện tập cần tạo cho Trí tuệ  mình  nhận ra chỉ có  một Danh Lý Tiểu súc mà tùy phạm vi nó đã có những Danh Được Lý như vậy .
  • Luyện tập So sánh Phạm vi Được Lý : Ta không thể Biến thông nếu không có sự So sánh để Được lý. Ví dụ khi ta so sánh Dịch tượng Phong Thiên Tiều Súc với Dịch Tượng Đối ứng Lôi Địa Dự bằng AD biến các biến hào  ta có những Danh Được Lý tuỳ theo phạm vi như sau :

TIỂU SÚC                 so sánh với                                   DỰ

– Trong nhà  ———————————–  ngoài ngõ.

– Trong ruột  ————————————-  ngoài da.

– khổ tâm     —————————————-  hài lòng

– sầu buồn   ——————————————  vui vẻ.

– buồn hiu   —————————————-  vui cười.

– chiến bại   ————————————  chiến thắng.

– chút ít       ——————————————–  dư đủ.

– Cô quạnh  —————————————-  sum vầy.

– Hết          ———————————————–  còn.

– Sa sút       ——————————————-  dự trữ.

– mỏng       ———————————————-   dày.

– Bao che   —————————————-   nghi ngờ.

– ẩn núp    ————————————-   canh phòng.

– tiền lẻ     ————————————–   tiền để dành.

– bất đồng  —————————————–   bàn bạc.

– té ngã     —————————————-   đứng dậy.

– Con sâu   —————————————-   Con Rồng

2. DỰ ĐOÁN

Vấn đề Dự báo và thực thi Dự đoán con người cần có những điều kiện  khả dĩ  mang tính Khoa học Khách quan ; nó tuỳ thuộc vào Trí tri Ý thức được Tu tập rèn luyện của mỗi con người để có thể Biến Thông các Tình Lý bằng các Danh Được Lý thích hợp với Danh Lý Tượng Dịch. Ở đây tạm liệt kê những Điều kiện cho một Dự đoán nghiêm túc nhất  :

  • Xác định Dữ kiện trong một Phạm vi Tình Lý nào đó  .
  • Quan sát , nhận xét Dữ kiện cùng với thời động và cơ động, là cái động nổi bật .
  • Xử dụng một Phương pháp chính lý toàn diện một Nguyên lý Căn bản và chính xác  ở mọi nơi mọi lúc bất kể không thời gian ; với DLVN là Nguyên Lý ĐND .
  • Ghi chép cẩn trọng Câu chuyện, Vấn đề , Kiểm chứng  và phán đoán lại các Dự đoán và dữ kiện ngõ hầu dễ dàng nghiệm lại tại sao đúng, sai tại sao ? để trau dồi kinh nghiệm Biến thông .
  • Tỷ lệ Kết quả các Dự Đoán cho phép  người Dự đoán  tự biết có Khả năng Tiên Đoán và tự tin có khả năng Cảm thông Thiên Điạ đón bắt được Ý Lý Biến hoá của Trời đất bằng Công cụ mình đã xử dụng . ( Kính Chiếu Yêu ĐND ) .

Để đáp ứng những Điều kiện nêu trên  buộc Trí Tri Ý của Con người phải tìm đến những gì Tận cùng của nó ; nghiã là phải biết Thắc mắc , phải biết Truy nguyên hay Hoàn nguyên để giải đáp cho chuỗi thắc mắc tại sao ấy ; bởi vì Văn bất tận Ngôn ; Ngôn bất tận Ý , Ý bất tận cùng kỳ Lý . Cho nên Dịch Lý chính là Khoa học cho phép Trí Tuệ về đến tận cùng Lý lẽ và Trí tuệ người nào cũng đều khả thi bằng DLVN .

KẾT LUẬN

Vậy Lý ấy là Lý lẽ nào mà tự thân nó lại đúng  ở khắp mọi nơi mọi lúc, lại  như nhiên tự nhiên không khiêm cưỡng ép buộc Trí tuệ ? Lý lẽ nào là Căn do là Nguyên tắc là phương pháp giúp Trí tuệ tìm về Chân lý mà nó mong muốn ? Văn minh Khoa học ngày nay cũng  chưa thể  thoả mãn những điều kiện này ! Văn minh Cổ Đại cũng chưa giải quyết rốt ráo và khoa học tuy có quá nhiều môn pháp dị biệt còn tồn tại hoặc đã  mai một biến dạng chẳng hạn như :

  • Đông Y Học, Phong Thuỷ Học  thật khó trả lời với câu hỏi  tạI sao Ý Lý lại căn cứ vào Ngũ Hành ! Ngũ hành từ đâu mà có ? Tại sao có những điều ấy để dùng làm Lý cớ chẩn đoán ?
  • Tử Vi Học  căn cứ vào Các Sao an vị, Thiên bàn Điạ bàn …  Tại sao  có các sao ? Tại sao có 12 cung ? Tại sao có Lục Thập Hoa Giáp ? Tại sao mỗi sao có tính Ngũ hành  ?  v.v…
  • Bốc Dịch cũng vậy; Tại sao có Thái cực ,Lưỡng Nghi , Tứ tượng, Bát Quái, 64 Tượng ? Căn cứ và cách biến hoá lý lẽ biến hoá nào ? Tại sao dùng để Bói toán Đoán định ?  v.v…

Tất cả những Vấn nạn trên Dịch Lý Việt Nam phải giải quyết và đã giải quyết đã biện minh chứng nghiệm một cách khoa học; Hội Dịch Lý Việt Nam đã khai mở Kỷ Nguyên Mới này khởi từ năm 1965 để Đại Chúng Hoá Văn Minh Dịch Lý Việt Nam; Mong rằng các Bạn nhận thức thật rõ Danh Lý và Danh Được Lý để mở ra được Thần Hoạt Biến Biến thông cho Trí Tuệ mau chóng linh hoạt bén nhậy, để tự mình tìm ra con đường sáng của Trí tuệ mình .

VIỆT NAM DỊCH LÝ HỘI

Phân Hội Đức

Hạnh Thanh


Sơ đẳng

08/01/2011

Dịch Lý Việt Nam ( DLVN ) là Dịch Lý Thời Nhân,  là một trong những Hoá Thành của Kiến Thức Nhân loại, nên nó trở thành của chung cho cả Nhân loại ; Sở dĩ nó có tên DLVN vì được xây dựng bằng Học Thuyết Tiên Hậu Thiên Trí Tri Ý Thức, một Học thuyết hoàn toàn do chính người  Việt Nam khám phá  và làm sống lại  Văn Minh Âm Dương Học ngàn xưa  ẩn  tàng trong Văn Hoá, Phong tục và Cổ vật Việt Nam, Học thuyết này được VN Dịch Lý Hội dùng làm nền tảng cho DLVN; là một Lý Thuyết độc đáo không có trong bất cứ Môn Dịch Lý Học nào khác trên Thế Gìới  đã và đang cùng Diễn giải  Lý Dịch của Trời Đất đã có từ hàng chục ngàn năm về trước. Với hàng trăm đề tài và dàn bài cho các Phân Khoa được Thầy Tổ DLVN  Xuân Phong Nguyễn văn Mì giảng huấn minh triết tường tận  và các Môn Đồ ghi chép lại tuy mỗi người đều ghi chép theo sự thụ nhận của mình và Phát triển theo Sở Học như các DHS Cao Thanh, Nam Thanh v.v… nhưng nhất  nhất  đều được Thầy Tổ lúc sinh tiền hướng dẫn trợ giúp và chỉnh Lý cho Môn sinh thấu triệt am tường Tiên Hậu Thiên Trí Tri Ý Thức Vũ Trụ  đễ Khai mở Kỷ Nguyên mới An Lạc Thái Hoà cho Nhân Loại , Kỷ Nguyên  Nối Liền Khoa Học và Đạo Lý . Tổng Thư Ký Hội Dịch Lý Việt Nam , DHS Cao Thanh , cũng là Trưởng Ban Truyền Bá DLVN là người chịu trách nhiệm trực tiếp lưu trữ và trình lên Thầy Tổ  tất cả các tài liệu này , sau đó được Thầy Tổ chính thức phê chuẩn ký tên và đóng dấu là những tài liệu nòng cốt của Hội Dịch Lý VN sẽ tuỳ thời lúc để in ấn , phổ biến . Hầu như tất cả những tài liệu ấy toàn thể các Môn sinh đều có và đều được dùng làm căn bản để đối chiếu lại những gì mình đã tiếp thu và cũng là để bổ túc cho chính Trí Tri Cơ Cấu  của mình trên đuờng tu học . VÀI ĐIỀU KIỆN ĐỀ NGHỊ KHI NHẬP MÔN Vì là Dịch Lý Thời nhân nên bất cứ ai cũng có thể tìm học, và cũng do tính Thời nhân nên DLVN đã được giới thiệu  trên mạng Internet toàn cầu. DLVN cũng như tất cả các Bộ môn Khoa học khác đều là do thành quả của Trí Tri Ý Lực  của con người mà hình thành , không có Trí lực của con người thì không có Môn học nào hiện hữu tồn tại . Do đó một số điều kiện ban đầu cần có được đề nghị : 1. DLVN đề nghị Học viên tự tin vào tư năng và chân thành với chính đòi hỏi tư duy của bản thân mình 2. DLVN đề nghị Học viên phải Thắc mắc,  biết Thắc mắc và Thắc mắc cho đến tận cùng của Lý Trí tánh. ( Tận cùng kỳ Lý) để nhận ra Lý lẽ, Nguyên cớ Hoá Thành của Sự vật Sự việc và tầm quan trọng của Lý Trí con người. 3. Vấn đề làm loạn ý  rối trí khi luận lý, diễn giải chính là Cái Danh , cái tên đã được đặt ra, đồng thời để sẽ nhận ra Cái Danh ấy thay đổi tuỳ theo không gian thời gian do con người đặt tên cho mọi vật việc một cách tự do tuỳ theo phạm vi tình lý hay phạm trù quy ước cục bộ hoặc toàn bộ thế giới; nên thường xẩy ra nhiều ngộ nhận đôi khi tạo sai lầm đáng tiếc . Từ đó DLVN  yêu cầu học viên nhận rõ nguồn gốc chính lý cuả việc Đặt tên là Trí Tri Ý Cơ Cấu Tượng Hình Hài Thanh  của Lý Biến Hoá Hoá Thành, Danh nào Lý nấy , Lý nào Danh nấy  . 4. Nhận diện thật rõ Cái Tôi Con người : là một Hóa thành , một Tiểu Vũ trụ  , đầy đủ Tính Lý Tình Lý  của Vũ Trụ Dịch nhưng Giống Mà Hơi Khác . 5. Vận dụng Tánh Biết Hiếu biết , Biết Không hiểu biết của Lý Trí tánh trong Cái Tôi  Tiểu Vũ Trụ này để đọc Lý Dịch , bày bố Tượng Dịch và do chính mình nhận thức lý lẽ hình thành ra các Quái, các Tượng Dịch, để sau này học hỏi Chiêm nghiệm giúp tự mình như nghe được hiểu được Tiếng nói của Thượng Cầm Hạ Thú  xuyên qua Tượng Dịch .

CƠ CẤU KHOA DỊCH LÝ VIỆT NAM

DLVN đã  hình thành 2 Phần Chính ; một là Văn Minh Dịch Lý Việt Nam (Lý Thuyết) hai là Văn Minh Vũ Trụ Ngữ (Thực Hành) ; Lý Thuyết và Thực hành phân bố thích hợp trong  9 Phân Khoa dùng làm các cửa ngõ thuận lợi cho Trí Tri của mọi tấng lớp Học viên  tuỳ  Cơ duyên  mà hội nhập  như các Phân Khoa Triết Dịch , Phân Khoa Thiên Nhiên Xã Hội Học, Phân Khoa Dịch Y Đạo,  Phân Khoa Nghiệm Lý ( Chiêm Nghiêm Lý Dịch) , Phân Khoa Dịch Võ Đạo, v.v… Tuy nhiên dù  vào bằng cửa Ngõ nào thì Học viên cũng sẽ được hướng dẫn qua Lớp Sơ Đẳng Triết Học Lý Dịch  để  Thấu triệt Ngyên Lý Căn Bản Đồng Nhi Dị của Học thuyết Tiên Hậu Thiên Trí Tri Ý Thức. làm nền tảng cho mọi Phân Khoa  Dịch Lý VN .Xin tóm lược nội dung vài Phân  Khoa để  học giả  có ý niệm đại lược về DLVN.

  • Phân Khoa Triết Lý Dịch Họccòn gọi là  Triết Đạo Học  hay Vũ Trụ Đạo  là Phân khoa dành cho những người yêu thích Triết học ; biện chứng Dịch Lý học phủ trùm các biện minh chứng nghiệm ngay lập tức gỡ rối những khuất tất trong triết  học nhân loại , là nhịp cầu của Vi  mô Vĩ mô nối liền Huyền vi và Hiển hiện, giữa  Đạo Lý và Khoa học vật chất .
  • Phân Khoa Thiên Nhiên Xã Hội Học mổ xẻ mọi cơ cấu Xã Hội từ Cơ cấu Vũ trụ , Cơ cấu muôn loài vạn vật , Cơ cấu Xã hội loài người cho đến những Xã hội Vi mô cực nhỏ. Trong Xã Hội loài người Thiên Nhiên Xã Hội  học là Triết lý An bang Tế Thế , khai thác Động Tĩnh của  của Vạn  Hữu để vén mở mọi thâm ý thầm ý của vạn hữu bằng Vũ Trụ Ngữ cho dù vạn hữu âm thầm  động tĩnh cũng không thể che dấu được . Vì thế trong Vũ Trụ gọi là Chính Trị Liên Hành Tinh .
  • Phân Khoa Khoa Học Biện Minh Chứng Nghiệm( Nghiệm Lý) hay Phân Khoa Dự Đoán Lý Dịch hoặc Dịch Lý Báo Tin là một Phân Khoa Chiết tính Tình lý của muôn loài vạn vật một cách Khoa học, khai mở Thần thức và Đức Thần minh cho Trí tri Ý Cơ  cấu của người có duyên cơ ham thích dự đoán, tiên đoán, gỡ rối mở đường tâm cơ giúp ta không trở thành kẻ  Bói mò, Đoán may nhờ biết đọc được Vũ trụ Ngữ, nghe được Vũ trụ Ngôn xuyên qua Động Tĩnh Tình Lý của Mọi Hiện Hữu.
  • Phân Khoa Dịch Y Đạo, là phân khoa trị bệnh không chỉ cho con người mà cho cả muôn vật; Dịch Y Đạo tạo dựng lại Lý thuyết Khoa Học Y Học Dân Gian của Việt Y Đạo, một Biện chứng Y Học làm cơ sở cho Y Lý , Y Trí và Y Đức . Không chỉ giới hạn trong Chất Thể Hình như Phẫu thuật hay phân tích DNA mà là Y luận trong toàn bộ 12 Phạm vi Tình Lý .

Việt Nam Dịch Lý Hội

ChiNamHocDich

SoDang

LyThuyet

TỰA BÀI

01

02

03

04

05

06

07

08

09

10

Con Người

Lý Trí

Sự Đặt Tên

Phạm vi Tình Lý

Chiết Tính Tình Ý

Luật Cực

Tương Động Tương Giao Tương Cảm Tương Sinh

Luật Tựu Thành

Việt Dịch Chánh Tông

Sách Vấn Đáp  Sơ Đẳng

 

ThucHanh01

THỜI LINH

TỰA ĐỀ

TRANG

Hoán

Tiểu Súc

Độn

Tỷ

Tụy

Độn

Th.Tốn

Độn

Lữ

Tiểu Quá

Bác

Th.Đoài

Đại Hữu

Hằng

Phệ Hạp

Giờ tan sở

Con sâu  (LT)

Đông Tĩnh Công Thức (LT)

Sưả Radio 1

Sưả Radio 2

Thôi nôi

Cái Đèn dầu

Nhuộm quần

Mua thuốc

Cắm điện xẹt lửa

Cờ tướng 1

Chán đi mua báo

Quên lối

Thăm chị

Tìm ông thư ký

Mưa gặp choì Cờ tướng

Hàng rào có gì xẩy ra?

011

018

021

024

025

027

028

029

099

103

104

129

168

171

184

187

189

GHI CHÚTừ Sách Dich Lý Khai Nguyên hãy làm bài tập theo Mẫu Kiểm Soát Chiêm Nghiêm mới nhất của VNDLH.

DongTinhCongThucCÁCH LẬP THÀNH  

Thứ tự hướng dẫn :

  1. Lấy Năm Tháng Ngày Giờ Âm lịch đổi ra số thứ tự:
    • Năm Tý 1, Sửu 2, Dần 3, Mão 4, Thìn 5, Tị 6, Ngọ 7, Mùi 8, Thân 9, Dậu 10, Tuất 11, Hợi 12.
    • Tháng Giêng 1, Hai 2, Ba 3, Tư 4 … Chạp 12.  Ngày mùmg Một 1, mùng Hai 2, … Ba mươi 30. 
    • Giờ Tý (từ 0 đến 2 giờ Sàigòn) 1, Sửu (2-4 giờ) … Hợi (22-24 giờ) 12.
  1. Cộng số của Năm Tháng Ngày làm một tổng số
  1. Cộng số của Năm Tháng Ngày Giờ (muốn biết) làm một tổng số .Chia hai tổng số cho 8, rồi đổ dư số còn lại ra Đon Quái (xin xem quái số đơn quái trang sau). Nếu tổng số dưới 8 thì khỏi chia.

              Lưu ý :

          Chia cho 8 tổng số của Năm Tháng Ngày làm Thượng Quái (trước).

          Tổng số của Năm Tháng Ngày đó thêm giờ vào rồi cũng chia cho 8 làm Hạ Quái (sau).

  1. Đơn Quái chỉ có 3 vạch  
  1. Ghép hai Đơn Quái thành Chánh Tượng : Thượng Quái ở trên Hạ Quái ở dưới.

8 quai

kien

doai

Hoa

Loi

Phong

Thuy

Son

Dia

UngDungVDCTBảo vật vô giá này là 1 cái biết khắp muôn trùng. Bạn nào có tính hay tò mò muốn nhìn biết được tất cả mọi việc khắp mọi nơi thì Dịch sẽ trả lời tất cả. Lúc nào cần bạn cứ mở ra thì biết liền và có thể hay biết được nhiều điều lạ lùng. Muốn đến được tinh diệu thì phải biết thích nghi trên mọi hoàn cảnh, mọi vật, mọi việc.   Trước hết chỉ nói Dịch do chánh quái tinh vi rồi, hãy tập nói chánh  và biến . Sau cùng đã nhuần nhã về chánh và biến rồi thì tới tam quái(chánh hộ biến) liên quan.

Nói Dịch do chánh quái:

           Ví dụ 1:    Bữa nọ đang lúc đi bộ ngừng lại tại một cổng xe lửa vì có một chiếc xe sắp chạy ngang đó.

ThuanDoai 2            Bỗng nhiên lòng bạn muốn biết hay là có người quen hỏi rằng: Tiên sinh hãy nói xem chiếc xe loại nào sắp chạy ngang qua đây. Biết rằng trên đường rầy có 2 loại xe: Một chiếc xe sạch sẽ và một chiếc không được sạch lắm. Thế rồi bạn tính ra Dịch tượng là Thuần Đoài

Xét ý nghĩa Thuần Đoài là duyệt dã, đẹp đẽ nên đoán rằng chuyến xe sắp chạy ngang qua thuộc loại đẹp, mà hễ đẹp là ẩn cái nghĩa sạch sẽ mới có nghĩa đẹp.

            Ví dụ 2Bữa nọ bạn cũng bị ngừng lại tại cổng xe lửa này mà bạn tính ra Dịch tượng là Hỏa Phong Đỉnh và trên đường rầy có hai loại xe: 1 loại thuộc về chụm lửa, 1 loại thuộc về điện lực. Với Dịch tượng là Hỏa Phong Đỉnh chúng ta có thể đoán ra chiếc xe sắp chạy ngang là loại chụm lửa.

            Ví dụ 3:  Bữa nọ bạn cũng bị ngừng lại tại cổng xe lửa khi bạn tính ra Dịch tượng là Trạch Hỏa Cách thì bạn biết là nó đổi đầu máy hoặc đem đầu máy này về để đầu máy khác thay thế.

            Ví dụ 4Bữa nọ bạn cũng bị ngừng lại tại cổng xe lửa khi tính ra Dịch tượng là Hỏa Sơn Lữ thì bạn biết là xe lửa chở hành khách.

2. Quan trọng về hào động.

            Bữa nọ lòng bạn muốn tìm một đề mục trong quyển tập có 74 trang, tức mình tìm hoài không biết nó ở khoảng trang thứ mấy. Bạn tính ra như sau:

ThienSonDon  Dịch tượng là Thiên Sơn Độn động hào tam. Xét thấy hào tam là hạ quái, mà quái thì có 6 hào. Tập sách có 74 trang.

    Trước hết bạn lấy 74 trang chia cho 6 hào thì bạn được:  74 : 6 = 12 (còn dư 2).

Nếu bạn cẩn thận hơn thì nên chia con số 74 trang ấy ra làm 2 phần: 1 phần thuộc về thượng quái, còn 1 phần thuộc về hạ quái, thì bạn được thượng quái 37 trang  và hạ quái 37 trang.

Thứ đến bạn lấy số 37 ấy chia làm 3, tức là chia cho tam hào, thì bạn sẽ được con số 12 còn dư 1. Số 1 này là của chung 3 hào, bạn để riêng ra.

Giả sử kế đó bạn lại đem con số 12 đó chia cho 3 hào nữa thì bạn sẽ được con số 4. Khi còn sít soát với 3 hào thì đừng chia nữa.

Khi nãy bạn chia số 37 cho 3 hào thì bạn được con số 12 còn dư 1. Bây giờ bạn muốn cho chính chắn thì hãy nhập con số 1 còn dư khi nãy với con số 4, vậy thì bạn được tất cả là 5 trang trong tập sách. Nhưng thật ra không phải trọn đủ 5 trang. vì nếu đúng theo lẽ thì con số dư 1 đã bị chia thành ra là 0,3333.

Trở lại vấn đề bạn có 5 trang nhưng thật ra không trọn đủ 5 trang. Bây giờ ta tạm nói là 5 trang như vậy từ trang 37 đến trang 41 có cái đề mục của mình muốn tìm.

Chớ nên thỏa mãn, bạn hãy trở về quái lý là Thiên Sơn Độn, bạn hiểu nghĩa là ẩn trốn. Vậy thì nó là 38, 39, 40. Lại trở về quái lý nhỏ hơn nữa với cái lý Độn thì bạn biết nó là trang 39. Xong rồi lại trở về cái lý Độn nhỏ nữa thì bạn sẽ biết cái đề mục ấy nó ở đầu trang hay cuối trang mà nó phải ở khoảng giữa trang.

Lại trở về cái lý độn nhỏ hơn nữa thì bạn sẽ biết là cái đề mục ấy thụt vô 1 chút vì chấm xuống hàng.

 

LySinhKhacLÝ SINH KHẮC TRONG 64 Ý TƯỢNG

     Để giải đáp thắc mắc của đa số học viên hỏi: Tại sao một Dịch Tượng xem ra tốt mà lại xấu, xấu mà lại tốt ? và không biết xảy ra cho mình hay cho người hoặc cho vật khác ?

Sau đây là Bảng Ý thức Chính xác Cương vị của mình trong một sự việc luôn luôn có 4 chiều:

  • Khi ta động thì có 2 chiều: Ta sinh hoặc Ta khắc Kẻ khác.
  • Khi ta tĩnh cũng có 2 chiều: Kẻ khác hoặc sinh hoặc khắc Ta.

Trong kiếp sinh thành của con người và muôn vật lúc nào cũng chỉ là Động Tĩnh. ? Có lúc chúng ta Tự Động, có lúc Bị Động hoặc Thọ Động.

Chúng ta không nên thiên chấp lý luận một chiều. Một dịch tượng chẳng xấu cũng chẳng tốt. Tốt xấu là tùy theo từng việc, từng vấn đề riêng tư của Ta mà thôi. Còn Dịch Lý thì Vô Tư. Lý luận Bị hay Được, đó là do chủ quan của mỗi Người. Mong các bạn nhận định cho kỹ.

Để các bạn dễ hiểu về Lý Sinh Khắc trong 64 ý tượng, chúng tôi trình bày dưới đây 64 bài mẫu với ý tượng chưa được biến thông. Chúng tôi mong rằng khi các bạn học Dịch khá rồi thì sẽ tự biến thông các ý tượng sao cho hợp tình, hợp lý hơn, chớ không phải học thuộc lòng những bài mẫu này.

1.- KHÔN:    Thuận dã là mềm mỏng.

Ta bị nhu nhược. Ta được sự nhu thuận. (Ta tĩnh)

Ta mềm mỏng với kẻ khác. Ta nhu nhược với kẻ khác. (Ta động)

2.- PHỤC:     Phản dã là trở lại, tái hồi.

Ta bị phản hồi. Ta được sự trở về.

Ta phục hưng cho kẻ khác. Ta phản bội kẻ khác.

3.- LÂM:   Đại dã là lớn ở trên soi xuống.

Ta bị giáo hoá. Ta được giáo dục.

Ta giáo tư, dung chở cho kẻ khác. Ta tự đại với kẻ khác.

4.- THÁI:    Thông dã là hanh thông.

Ta bị thông tri. Ta được thông hiểu.

Ta khai thông cho kẻ khác. Ta thông thạo hơn người.

5.- TRÁNG:  Chí dã là chí khí bền.

Ta bị lập nên. Ta có được chí khí.

Ta chí chính cho kẻ khác. Ta hùng tráng với kẻ khác.

6.- QUẢI:     Quyết dã là quyết đoán, dứt khoát.

Ta bị dứt quyết. Ta được sự quyết định.

Ta dứt khoát, phán cho kẻ khác. Ta cương quyết cắt đứt kẻ khác.

7.- NHU:       Thuận dã là chờ đợi nhu cầu.

Ta bị nghiệm xét. Ta được cứu xét.

Ta nghiên cứu cho kẻ khác. Ta nghiệm xét kẻ khác.

8.- TỶ:         Thân dã, tư dã là hân hoan, thân liền.

Ta bị tư thân. Ta được tư thân.

Ta cầu thân với kẻ khác. Ta cởi bỏ mọi người.

9.- CẤN:      Chỉ dã là ngăn giữ.

Ta bị ngăn chặn. Ta được ngăn chặn.

Ta ngăn ngừa cho kẻ khác. Ta ngăn giữ kẻ khác.

10.- BÍ:         Sức dã là trang sức, thông suốt.

Ta bị thấu suốt. Ta được sáng suốt.

Ta sáng tỏ cho kẻ khác. Ta đả thông kẻ khác.

11.- ĐẠI SÚC:   Tụ dã là chứa lớn.

Ta bị tích tụ. Ta được tích tụ.

Ta nuôi chứa kẻ khác. Ta dồn tụ kẻ khác.

12.- TỔN:          Thất dã, hao tổn, thất bác.

Ta bị hao tổn. Ta được ban bố.

Ta ban bố cho kẻ khác. Ta tổn hại kẻ khác.

13.- KHUỂ:        Quai dã là trái lìa, nhờ vã lẫn nhau.

Ta bị hổ trợ. Ta được hổ trợ.

Ta hổ trợ cho kẻ khác. Ta được thế lực hùng hổ với kẻ khác.

14.- LÝ:                Lễ dã là lễ phép, hệ thống qui.

Ta bị theo phép. Ta được lễ kính.

Ta lể kính kẻ khác. Ta bắt lỗi kẻ khác.

15.- TRUNG PHU:    Tín dã là tín cẩn.

Ta bị ủy nhiệm. Ta được tín nhiệm.

Ta tin tưởng kẻ khác. Ta ủy nhiệm kẻ khác.

16.- TIỆM:         Tiến dã là tiến bộ lần lần.

Ta bị tuần tự. Ta được tiệm tiến.

Ta thứ tự cho kẻ khác. Ta chậm chạp và trật tự kẻ khác.

17.- KHẢM:        Hãm dã là hiểm nguy, bắt buộc.

Ta bị hãm hiểm. Ta được kềm hãm.

Ta chịu sự kềm hãm cho kẻ khác. Ta đóng khung kẻ khác.

18.- TIẾT:           Chỉ dã là chừng mực, hạn chế.

Ta bị hạn chế. Ta được hạn chế.

Ta tiết kiệm cho kẻ khác. Ta tiết chế kẻ khác.

19.- TRUÂN:       Nạn dã là khó khăn, trở ngại.

Ta bị gian nan. Ta được cứu khổ.

Ta truân chuyên vì kẻ khác. Ta gây gian truân kẻ khác.

20.- KÝ TẾ:         Hợp dã là hợp pháp.

Ta bị hợp cùng. Ta được hiệp nhau.

Ta hợp lý cho kẻ khác. Ta cấu hợp kẻ khác.

21.- CÁCH:         Cải dã là thay đổi.

Ta bị cải biến. Ta được hoán cải.

Ta hoàn thiện cho kẻ khác. Ta biến chế kẻ khác.

22.- PHONG:       Thịnh dã là thịnh đại, lớn.

Ta bị đồng hóa. Ta được hòa đồng.

Ta hòa đồng với kẻ khác. Ta đồng hóa với kẻ khác.

23.- MINH DI:       Thương dã là bị thương.

Ta bị thương. Ta được thương hại.

Ta đau thương vì kẻ khác. Ta gây tang thương cho kẻ khác.

24.- SƯ:             Chúng dã, ủng hộ nhau, nhiều người.

Ta bị áp chúng. Ta được chúng ủng hộ.

Ta ủng hộ kẻ khác. Ta được chúng ủng hộ.

25.- TỐN:            Nhập dã là thuận, vào ở trong.

Ta bị sát nhập. Ta được gia nhập.

Ta thuận nhập,vào ra với kẻ khác.Ta du nhập,đột nhập kẻ khác

26.- TIỂU SÚC:    Tắc dã là chứa góp ít.

Ta bị cô đơn. Ta được riêng ý.

Ta độc đáo vì kẻ khác. Ta cô lập hay là bất điệu với kẻ khác.

27.- GIA NHÂN:    Đồng dã là cùng nhau.

Ta bị thêm người. Ta được sinh sôi nẩy nở.

Ta sinh sôi cho kẻ khác. Ta đồng hóa kẻ khác làm gia đinh.

28.- ÍCH:             Ích dã là tăng thêm, ích lợi.

Ta bị lợi dụng. Ta được lợi ích.

Ta ban lộc cho người. Ta lợi dụng kẻ khác.

29.- VÔ VỌNG:    Thiên tai dã là tai nạn tự nhiên.

Ta bị xâm lấn. Ta được xâm phạm.

Ta chịu sự xâm nhập. Ta xâm phạm kẻ khác.

30.- PHÊ HẠP:      Khiết dã là cắn hợp, hỏi han.

Ta bị đay nghiến. Ta được cắn hợp.

Ta chịu sự dày xéo. Ta đay nghiến kẻ khác.

31.- DI:              Dưỡng dã là chăm lo, nuôi nấng.

Ta bị an nghỉ. Ta được bồi dưỡng.

Ta bổ dưỡng cho kẻ khác. Ta an nghỉ kẻ khác.

32.- CỔ:            Sự dã là cớ sự, việc.

Ta bị cớ sự. Ta được cớ sự,

Ta chịu cớ sự cho kẻ khác. Ta gây cớ sự với kẻ khác.

33.- CHẤN:       Động dã là chấn động, dấy khởi.

Ta bị kinh động. Ta được dấy động.

Ta hoạt động cho kẻ khác. Ta gây kinh động cho kẻ khác.

34.- DỰ:             Duyệt dã là phòng bị, vui vẻ.

Ta bị múa rối. Ta được vui động.

Ta động vui cho kẻ khác. Ta múa rối, rộn tan kẻ khác.

35.- GIẢI:          Thuận dã là phân tán, cởi mở, giải đãi.

Ta bị phân tán. Ta được phóng thích.

Ta phóng thích cho kẻ khác.

36.- HẰNG:        Cửu dã là lâu, bền vững.

Ta bị kéo dài. Ta được bền vững.

Ta bền chặt với kẻ khác. Ta đeo theo kẻ khác.

37.- THĂNG:      Tiến dã là vọt lên, đi không trở lại.

Ta bị hối hả. Ta được mau chóng.

Ta sốt sắng cho kẻ khác. Ta hối thúc kẻ khác.

38.- TĨNH:            Tịnh dã là trầm lặng, sâu.

Ta bị dìm sâu. Ta được yên lặng.

Ta  đem sự bình an cho kẻ khác. Ta dìm sâu kẻ khác.

39.- ĐẠI QUÁ:     Quá dã là nhiều quá, thái quá.

Ta bị qúa đỗi. Ta được tích cực.

Ta tích cực cho kẻ khác. Ta qúa độ với kẻ khác.

40.- TÙY:            Thuận dã là theo.

Ta bị lệ thuộc. Ta được tùy nghi.

Ta chìu chuộng kẻ khác. Ta lệ thuộc hóa kẻ khác.

40.- LY:            Lệ dã là sáng sủa, bám vào, phụ vào.

Ta bị tranh sáng. Ta được sáng sủa.

Ta sáng tỏ cho kẻ khác. Ta tranh sáng với kẻ khác.

42.- LỮ:             Khách dã là khách, ở trọ, lữ thứ.

Ta bị lang thang. Ta được khách qúy.

Ta bằng lòng cho ở đỗ. Ta tá ngụ nhà người.

43.- ĐỈNH:         Định dã là nung nấu, úng đúc.

Ta bị nung nấu. Ta được ung đúc.

Ta ung đúc kẻ khác. Ta nung đốt kẻ khác.

44.- VỊ TẾ:        Thất dã là thất bác, dỡ dang.

Ta bị dở dang. Ta nhờ sự dở dang.

Ta thất bác cho kẻ khác. Ta phá hỏng kẻ khác.

45.- MÔNG:       Muội dã là mờ mịt, tối tăm.

Ta bị ám muội. Ta được sự ám muội.

Ta che đậy mờ ám cho kẻ khác. Ta bất minh với kẻ khác.

46.- HOÁN:        Tán dã là tan ra, lìa tan.

Ta bị xa lánh. Ta được xa lánh.

Ta phi tang cho kẻ khác. Ta tan biến kẻ khác.

47.- TỤNG:         Luận dã là luận bàn, kiện cáo.

Ta bị tranh tụng. Ta được sự biện minh.

Ta biện luận cho kẻ khác. Ta gây gỗ kiện tụng kẻ khác.

48.- ĐỒNG NHÂN: Thân dã là gần gũi,cùng chung với người khác.

Ta bị yêu chuộng. Ta được sự đồng ý.

Ta biểu đồng tình với kẻ khác.Ta ngang hàng thất kính kẻ khác.

49.- ĐOÀI:         Duyệt dã là vui lòng, hiện đẹp.

Ta bị đùa cợt. Ta được vui đẹp.

Ta vui đẹp cho kẻ khác. Ta cười chê, đùa cợt kẻ khác.

50.- KHỐN:       Nguy dã là lo âu, nguy khốn.

Ta bị nguy khốn. Ta được lo lắng.

Ta lo lắng cho kẻ khác. Ta làm nguy khốn kẻ khác.

51.- TỤY:           Tụ dã, tụ họp, tụ lại mà không đi.

Ta bị trưng tập. Ta được tụ tập.

Ta cổ động cho kẻ khác. Ta trưng tập kẻ khác.

52.- HÀM:          Cảm dã là cảm xúc.

Ta bị cảm động. Ta được cảm tương.

Ta tương cảm đến kẻ khác. Ta làm xúc động kẻ khác.

53.- KIỂN:          Nạn dã là hoạn nạn, khó khăn.

Ta bị trở ngại. Ta được sự ngăn trở.

Ta ngăn ngừa cho kẻ khác. Ta chướng ngại kẻ khác.

54.- KHIÊM:        Thoái dã là lui lại, nhún nhường.

Ta bị miệt thị. Ta được nhún nhường.

Ta khiêm tốn với kẻ khác. Ta miệt thị kẻ khác.

55.- TIỂU QUÁ:   Quá dã là nhỏ quá, thiểu lý.

Ta bị hèn hạ. Ta được phận mọn.

Ta đoái hoài đến kẻ khác. Ta phiền nhiễu kẻ khác.

56.- QUI MUỘI:    Tai dã là tai nạn, rối ren.

Ta bị đẹp động. Ta được đẹp động.

Ta chịu sự rối ren cho kẻ khác. Ta khuấy rối kẻ khác.

57.- KIỀN:          Kiện dã là mạnh mẽ.

Ta bị sức mạnh. Ta được lớn mạnh.

Ta hùng mạnh cho kẻ khác. Ta cường bạo với kẻ khác.

58.- CẤU:          Ngộ dã là gặp gỡ.

Ta bị bắt gặp. Ta được cấu kết.

Ta mai mối cho kẻ khác. Ta bắt gặp kẻ khác.

59.- ĐỘN:       Thoái dã là lui ẩn, trốn đi.

Ta bị ẩn trốn. Ta được ẩn trốn.

Ta che dấu cho kẻ khác. Ta ẩn trốn kẻ khác.

60.- BĨ:            Tắc dã là bế tắc.

Ta bị bế tắc. Ta được sự bế tắc.

Ta bế tắc cho kẻ khác. Ta tắc nghẽn kẻ khác.

61.- QUÁN:      Quan dã là xem xét, quan sát.

Ta bị quan sát. Ta được xem xét.

Ta trông nom cho kẻ khác. Ta quan sát kẻ khác.

62.- BÁC:        Lạc dã là bớt, lột mất.

Ta bị lột xác. Ta được xoá mờ.

Ta xoá nhòa cho kẻ khác. Ta lột xác kẻ khác.

63.- TẤN:        Tiến dã là đến hay đi, tiến tới.

Ta bị đi. ta được đến.

Ta hiện diện cho kẻ khác. Ta xuồng xã đến kẻ khác.

64.- ĐẠI HỮU:  Khoan dã là cả có.

Ta bị trùng điệp. Ta có được nhiều.

Ta phong phú cho kẻ khác. Ta đa sự với kẻ khác.

BaiDocThem

VoTuLaGiTư duy, Tư tưởng , Suy tư, Trầm tư, Quán tưởng …tất cả chỉ là hoạt động cuả Trí tuệ Con người với mục đích tự tìm cho mình cái Lý lẽ nào đó đã và đang cảm nhận từ trong chính nó phát sinh hay do tha nhân giới thiệu , truyền đạt ngõ hầu chọn lọc điều mà tự nó sẽ cho là Chính lý , là đúng nhất là thích hợp với tư năng và kỹ năng của chính nó . Trong diễn trình tư duy này Con người gặp phải rất nhiều chướng ngại từ nội thân lẫn ngoại cảnh tương tác hay áp chế làm ảnh hướng rất lớn đến chính đời sống con người của nó. Phản ảnh tai hại của nó là những thái trạng hoang tưởng, cuồng tín, tự tôn tự đại hay tự ti mặc cảm hoặc lãnh cảm . Vậy phải tư duy  thế nào để Trí tuệ có được sự Vô Tư thanh thản độc lập chính lý chính xác và sáng tạo . SUY LUẬN VÔ TƯ LÀ GÌ ? Nghĩa là chấp nhận Vạn Hữu có Trí-Tri-Ý riêng biệt của nó. Vạn vật có Tri giác của chúng, chẳng qua con người hiểu lầm chúng Vô Tri giác, Tri giác con người khác Tri giác loài vật nên khó thông cảm mặc dù hàng ngày chung đụng mật thiết với nhau . Cho nên, Vô tư là Tư lự mà Bất Thiên Bất Nhiễm, là cố gắng triệt tiêu Thiên kiến, Định kiến . Có vô số Tri giác giống mà hơi khác nhau, vì mỗi giống loài đã Biến hoá đều có ôm ấp Tiên Thiên tính giống mà hơi khác nhau trong Chuỗi lý Biến Hoá của mình và tất cả đã và đang chịu đựng, phối hợp, giao cảm với nhau, hữu dụng lẫn cho nhau, gần gũi nhau . Sự chung đụng giữa Vạn Hữu, quả thật  thường là ngoài ý muốn, vì nếu ta hỏi: Không Khí , Đất đá, Cây cối, Vi khuẩn  và muôn giống loài khác, lấy Lý lẽ gì mà ở gần chúng ta, chung đụng với ta và chúng ta có trốn thoát khỏi cảnh tình tự giữa mình với chúng không? Chúng ta thường đều thiếu Đức Vô Tư ; Ví dụ Ta cầm một miếng gỗ. Tri giác của con người cho đó là Gỗ, đặt tên là “Gỗ” và coi nó là Vô tri dùng đóng bàn ghế . Nhưng nếu ta lại đả phá tư tưởng của chính ta : Có chắc đó là Gỗ không ? Nếu ta không phải loài người, nếu ta là con Mối, là Lửa, là Cây; ta sẽ lập luận ra sao? Có lẽ ta sẽ đặt tên cho Gỗ là Thức ăn, Đồ bổ dưỡng, là Da thịt của ta. Trí Tri của loài người là Gỗ. Trí Tri của Mối, Lửa là thức ăn, Trí tri của Cây là Da thịt  và rồi nó thể hiện Ý của nó ; Mối, Lửa thì ăn gậm nhấm Gỗ ;Cây thì đau đớn bị cắt xẻ…Vậy là Ý có Danh ý là do Trí Tri phối hợp để có Danh Được Lý và chỉ đúng trong Phạm vi của nó.  Cho nên dùng một lý lẽ ngoài ý muốn của một người hoặc một vật nào đó để bắt buộc tha nhân tha vật ấy phải theo Ý mình là thiếu Vô Tư . Và  nếu còn có ý muốn can dự, can thiệp vào các Khách thể khác thì chỉ là muốn có sở đắc trong một phạm vi hạn hẹp nào đó để cưỡng bách tha nhân tha vật phục vụ cho mình mà thôi … Ngoài ra còn như những sự chung đụng hết sức hữu tình như: Sanh, Bịnh, Lão, Tử  chắc không ai dám quyết đoán là mình có ý muốn tham dự, hay phản bác được rằng mình sẽ bất tử….bởi vì chúng tha hồ đến rồi đi bất chấp Ý muốn của ta , ngoài ý muốn của ta .

TƯ  DUY  LÝ  DỊCH

Vạn Hữu vốn muôn hình vạn trạng, trùng trùng sắc thái, tính chất, tính lý khác nhau. Nó được Dịch Lý  qui về NHẤT LÝ, thể hiện ra bằng hai hình bóng, hai Ký hiệu Âm Dương được và bị dùng làm bờ neo suy lý, lý luận luận lý . Suy tư rồi lập luận, ắt là có lý luận, có bàn luận cho vỡ lẽ cho ra lẽ . Hoạt động tự đả phá thanh lọc kiến thức, tri thức, lý tuởng, lý lẽ của chính mình, luôn luôn và liên lỉ trong nhiều ngày nghiã là tự mình thành khẩn cầu mong truy tìm sự Hữu Lý, tự mình đả phá cho đến tận cùng kỳ lý của Lý Trí, của Trí tuệ và  khi không còn đả phá được cái mà Lý Trí vừa nêu ra, ắt sẽ đạt được Lý; tức là Trí tuệ đã Sở đắc về Thần Hoạt Biến (Hoạt bát Biến thông). Tuy nhiên sẽ xẩy ra  trường hợp ta còn kém Lý lẽ , kiến thức ta còn giới hạn ; nghĩa là Lý lẽ vừa nêu ra còn sai lầm mà ta vẫn không đả phá nổi, để rồi hoang tưởng là ta đã đạt được Lý đã về đến tận cùng cuả mọi câu hỏi tại sao ? Tại sao của tại sao ? . Điều này vượt qua không khó, nếu ta quyết tâm , kiên trì truy tầm CHÂN LÝ.

KẾT LUẬN

Vậy suy luận Vô tư  Lý Dịch là làm sao hiểu  rõ được Vạn Vật Qui Nhất Lý : Âm Dương Biến Hoá Nhất Luật .  Suy luận Vô Tư là để đạt đến Tận cùng kỳ Lý của Lý Trí, đạt Chân Lý, đạt cái Nhất Lý Thường hằng chi phối Vũ trụ muôn đời, muôn nơi . Lý luận Vô Tư  quả thật vượt qua khỏi lối suy luận hạn hẹp của loài người. Con người chúng ta cứ mãi lẩn quẩn, cứ mãi mò mẫm hạn hẹp phạm vi mà hóa ra xa rời Chân Lý. Không nên chỉ lý luận riêng ở phạm vi con người trong chúng ta để rồi lại tồi tệ nằng nặc ý riêng ta là tuyệt đối đúng, là Chân lý để áp đặt cho muôn loài trong Vũ Trụ , vì làm như vậy là tự phủ nhận Lý Trí mà hóa ra khó tiến tới công cuộc truy tầm Chân Lý, là đánh Mất Vô Tư . Tóm lại, Chân Lý của mỗi trình độ có hơi khác nhau, hà cớ bắt buộc Chân Lý của mình phải là Chân Lý của người khác mà nên cùng nhau GMHK nhận ra Chân Lý Vũ Trụ với Nhất Lý Biến Hoá .

Phân Hội Đức

Hạnh Thanh

.

.