Sơ đẳng

Dịch Lý Việt Nam ( DLVN ) là Dịch Lý Thời Nhân,  là một trong những Hoá Thành của Kiến Thức Nhân loại, nên nó trở thành của chung cho cả Nhân loại ; Sở dĩ nó có tên DLVN vì được xây dựng bằng Học Thuyết Tiên Hậu Thiên Trí Tri Ý Thức, một Học thuyết hoàn toàn do chính người  Việt Nam khám phá  và làm sống lại  Văn Minh Âm Dương Học ngàn xưa  ẩn  tàng trong Văn Hoá, Phong tục và Cổ vật Việt Nam, Học thuyết này được VN Dịch Lý Hội dùng làm nền tảng cho DLVN; là một Lý Thuyết độc đáo không có trong bất cứ Môn Dịch Lý Học nào khác trên Thế Gìới  đã và đang cùng Diễn giải  Lý Dịch của Trời Đất đã có từ hàng chục ngàn năm về trước. Với hàng trăm đề tài và dàn bài cho các Phân Khoa được Thầy Tổ DLVN  Xuân Phong Nguyễn văn Mì giảng huấn minh triết tường tận  và các Môn Đồ ghi chép lại tuy mỗi người đều ghi chép theo sự thụ nhận của mình và Phát triển theo Sở Học như các DHS Cao Thanh, Nam Thanh v.v… nhưng nhất  nhất  đều được Thầy Tổ lúc sinh tiền hướng dẫn trợ giúp và chỉnh Lý cho Môn sinh thấu triệt am tường Tiên Hậu Thiên Trí Tri Ý Thức Vũ Trụ  đễ Khai mở Kỷ Nguyên mới An Lạc Thái Hoà cho Nhân Loại , Kỷ Nguyên  Nối Liền Khoa Học và Đạo Lý . Tổng Thư Ký Hội Dịch Lý Việt Nam , DHS Cao Thanh , cũng là Trưởng Ban Truyền Bá DLVN là người chịu trách nhiệm trực tiếp lưu trữ và trình lên Thầy Tổ  tất cả các tài liệu này , sau đó được Thầy Tổ chính thức phê chuẩn ký tên và đóng dấu là những tài liệu nòng cốt của Hội Dịch Lý VN sẽ tuỳ thời lúc để in ấn , phổ biến . Hầu như tất cả những tài liệu ấy toàn thể các Môn sinh đều có và đều được dùng làm căn bản để đối chiếu lại những gì mình đã tiếp thu và cũng là để bổ túc cho chính Trí Tri Cơ Cấu  của mình trên đuờng tu học . VÀI ĐIỀU KIỆN ĐỀ NGHỊ KHI NHẬP MÔN Vì là Dịch Lý Thời nhân nên bất cứ ai cũng có thể tìm học, và cũng do tính Thời nhân nên DLVN đã được giới thiệu  trên mạng Internet toàn cầu. DLVN cũng như tất cả các Bộ môn Khoa học khác đều là do thành quả của Trí Tri Ý Lực  của con người mà hình thành , không có Trí lực của con người thì không có Môn học nào hiện hữu tồn tại . Do đó một số điều kiện ban đầu cần có được đề nghị : 1. DLVN đề nghị Học viên tự tin vào tư năng và chân thành với chính đòi hỏi tư duy của bản thân mình 2. DLVN đề nghị Học viên phải Thắc mắc,  biết Thắc mắc và Thắc mắc cho đến tận cùng của Lý Trí tánh. ( Tận cùng kỳ Lý) để nhận ra Lý lẽ, Nguyên cớ Hoá Thành của Sự vật Sự việc và tầm quan trọng của Lý Trí con người. 3. Vấn đề làm loạn ý  rối trí khi luận lý, diễn giải chính là Cái Danh , cái tên đã được đặt ra, đồng thời để sẽ nhận ra Cái Danh ấy thay đổi tuỳ theo không gian thời gian do con người đặt tên cho mọi vật việc một cách tự do tuỳ theo phạm vi tình lý hay phạm trù quy ước cục bộ hoặc toàn bộ thế giới; nên thường xẩy ra nhiều ngộ nhận đôi khi tạo sai lầm đáng tiếc . Từ đó DLVN  yêu cầu học viên nhận rõ nguồn gốc chính lý cuả việc Đặt tên là Trí Tri Ý Cơ Cấu Tượng Hình Hài Thanh  của Lý Biến Hoá Hoá Thành, Danh nào Lý nấy , Lý nào Danh nấy  . 4. Nhận diện thật rõ Cái Tôi Con người : là một Hóa thành , một Tiểu Vũ trụ  , đầy đủ Tính Lý Tình Lý  của Vũ Trụ Dịch nhưng Giống Mà Hơi Khác . 5. Vận dụng Tánh Biết Hiếu biết , Biết Không hiểu biết của Lý Trí tánh trong Cái Tôi  Tiểu Vũ Trụ này để đọc Lý Dịch , bày bố Tượng Dịch và do chính mình nhận thức lý lẽ hình thành ra các Quái, các Tượng Dịch, để sau này học hỏi Chiêm nghiệm giúp tự mình như nghe được hiểu được Tiếng nói của Thượng Cầm Hạ Thú  xuyên qua Tượng Dịch .

CƠ CẤU KHOA DỊCH LÝ VIỆT NAM

DLVN đã  hình thành 2 Phần Chính ; một là Văn Minh Dịch Lý Việt Nam (Lý Thuyết) hai là Văn Minh Vũ Trụ Ngữ (Thực Hành) ; Lý Thuyết và Thực hành phân bố thích hợp trong  9 Phân Khoa dùng làm các cửa ngõ thuận lợi cho Trí Tri của mọi tấng lớp Học viên  tuỳ  Cơ duyên  mà hội nhập  như các Phân Khoa Triết Dịch , Phân Khoa Thiên Nhiên Xã Hội Học, Phân Khoa Dịch Y Đạo,  Phân Khoa Nghiệm Lý ( Chiêm Nghiêm Lý Dịch) , Phân Khoa Dịch Võ Đạo, v.v… Tuy nhiên dù  vào bằng cửa Ngõ nào thì Học viên cũng sẽ được hướng dẫn qua Lớp Sơ Đẳng Triết Học Lý Dịch  để  Thấu triệt Ngyên Lý Căn Bản Đồng Nhi Dị của Học thuyết Tiên Hậu Thiên Trí Tri Ý Thức. làm nền tảng cho mọi Phân Khoa  Dịch Lý VN .Xin tóm lược nội dung vài Phân  Khoa để  học giả  có ý niệm đại lược về DLVN.

  • Phân Khoa Triết Lý Dịch Họccòn gọi là  Triết Đạo Học  hay Vũ Trụ Đạo  là Phân khoa dành cho những người yêu thích Triết học ; biện chứng Dịch Lý học phủ trùm các biện minh chứng nghiệm ngay lập tức gỡ rối những khuất tất trong triết  học nhân loại , là nhịp cầu của Vi  mô Vĩ mô nối liền Huyền vi và Hiển hiện, giữa  Đạo Lý và Khoa học vật chất .
  • Phân Khoa Thiên Nhiên Xã Hội Học mổ xẻ mọi cơ cấu Xã Hội từ Cơ cấu Vũ trụ , Cơ cấu muôn loài vạn vật , Cơ cấu Xã hội loài người cho đến những Xã hội Vi mô cực nhỏ. Trong Xã Hội loài người Thiên Nhiên Xã Hội  học là Triết lý An bang Tế Thế , khai thác Động Tĩnh của  của Vạn  Hữu để vén mở mọi thâm ý thầm ý của vạn hữu bằng Vũ Trụ Ngữ cho dù vạn hữu âm thầm  động tĩnh cũng không thể che dấu được . Vì thế trong Vũ Trụ gọi là Chính Trị Liên Hành Tinh .
  • Phân Khoa Khoa Học Biện Minh Chứng Nghiệm( Nghiệm Lý) hay Phân Khoa Dự Đoán Lý Dịch hoặc Dịch Lý Báo Tin là một Phân Khoa Chiết tính Tình lý của muôn loài vạn vật một cách Khoa học, khai mở Thần thức và Đức Thần minh cho Trí tri Ý Cơ  cấu của người có duyên cơ ham thích dự đoán, tiên đoán, gỡ rối mở đường tâm cơ giúp ta không trở thành kẻ  Bói mò, Đoán may nhờ biết đọc được Vũ trụ Ngữ, nghe được Vũ trụ Ngôn xuyên qua Động Tĩnh Tình Lý của Mọi Hiện Hữu.
  • Phân Khoa Dịch Y Đạo, là phân khoa trị bệnh không chỉ cho con người mà cho cả muôn vật; Dịch Y Đạo tạo dựng lại Lý thuyết Khoa Học Y Học Dân Gian của Việt Y Đạo, một Biện chứng Y Học làm cơ sở cho Y Lý , Y Trí và Y Đức . Không chỉ giới hạn trong Chất Thể Hình như Phẫu thuật hay phân tích DNA mà là Y luận trong toàn bộ 12 Phạm vi Tình Lý .

Việt Nam Dịch Lý Hội

ChiNamHocDich

SoDang

LyThuyet

TỰA BÀI

01

02

03

04

05

06

07

08

09

10

Con Người

Lý Trí

Sự Đặt Tên

Phạm vi Tình Lý

Chiết Tính Tình Ý

Luật Cực

Tương Động Tương Giao Tương Cảm Tương Sinh

Luật Tựu Thành

Việt Dịch Chánh Tông

Sách Vấn Đáp  Sơ Đẳng

 

ThucHanh01

THỜI LINH

TỰA ĐỀ

TRANG

Hoán

Tiểu Súc

Độn

Tỷ

Tụy

Độn

Th.Tốn

Độn

Lữ

Tiểu Quá

Bác

Th.Đoài

Đại Hữu

Hằng

Phệ Hạp

Giờ tan sở

Con sâu  (LT)

Đông Tĩnh Công Thức (LT)

Sưả Radio 1

Sưả Radio 2

Thôi nôi

Cái Đèn dầu

Nhuộm quần

Mua thuốc

Cắm điện xẹt lửa

Cờ tướng 1

Chán đi mua báo

Quên lối

Thăm chị

Tìm ông thư ký

Mưa gặp choì Cờ tướng

Hàng rào có gì xẩy ra?

011

018

021

024

025

027

028

029

099

103

104

129

168

171

184

187

189

GHI CHÚTừ Sách Dich Lý Khai Nguyên hãy làm bài tập theo Mẫu Kiểm Soát Chiêm Nghiêm mới nhất của VNDLH.

DongTinhCongThucCÁCH LẬP THÀNH  

Thứ tự hướng dẫn :

  1. Lấy Năm Tháng Ngày Giờ Âm lịch đổi ra số thứ tự:
    • Năm Tý 1, Sửu 2, Dần 3, Mão 4, Thìn 5, Tị 6, Ngọ 7, Mùi 8, Thân 9, Dậu 10, Tuất 11, Hợi 12.
    • Tháng Giêng 1, Hai 2, Ba 3, Tư 4 … Chạp 12.  Ngày mùmg Một 1, mùng Hai 2, … Ba mươi 30. 
    • Giờ Tý (từ 0 đến 2 giờ Sàigòn) 1, Sửu (2-4 giờ) … Hợi (22-24 giờ) 12.
  1. Cộng số của Năm Tháng Ngày làm một tổng số
  1. Cộng số của Năm Tháng Ngày Giờ (muốn biết) làm một tổng số .Chia hai tổng số cho 8, rồi đổ dư số còn lại ra Đon Quái (xin xem quái số đơn quái trang sau). Nếu tổng số dưới 8 thì khỏi chia.

              Lưu ý :

          Chia cho 8 tổng số của Năm Tháng Ngày làm Thượng Quái (trước).

          Tổng số của Năm Tháng Ngày đó thêm giờ vào rồi cũng chia cho 8 làm Hạ Quái (sau).

  1. Đơn Quái chỉ có 3 vạch  
  1. Ghép hai Đơn Quái thành Chánh Tượng : Thượng Quái ở trên Hạ Quái ở dưới.

8 quai

kien

doai

Hoa

Loi

Phong

Thuy

Son

Dia

UngDungVDCTBảo vật vô giá này là 1 cái biết khắp muôn trùng. Bạn nào có tính hay tò mò muốn nhìn biết được tất cả mọi việc khắp mọi nơi thì Dịch sẽ trả lời tất cả. Lúc nào cần bạn cứ mở ra thì biết liền và có thể hay biết được nhiều điều lạ lùng. Muốn đến được tinh diệu thì phải biết thích nghi trên mọi hoàn cảnh, mọi vật, mọi việc.   Trước hết chỉ nói Dịch do chánh quái tinh vi rồi, hãy tập nói chánh  và biến . Sau cùng đã nhuần nhã về chánh và biến rồi thì tới tam quái(chánh hộ biến) liên quan.

Nói Dịch do chánh quái:

           Ví dụ 1:    Bữa nọ đang lúc đi bộ ngừng lại tại một cổng xe lửa vì có một chiếc xe sắp chạy ngang đó.

ThuanDoai 2            Bỗng nhiên lòng bạn muốn biết hay là có người quen hỏi rằng: Tiên sinh hãy nói xem chiếc xe loại nào sắp chạy ngang qua đây. Biết rằng trên đường rầy có 2 loại xe: Một chiếc xe sạch sẽ và một chiếc không được sạch lắm. Thế rồi bạn tính ra Dịch tượng là Thuần Đoài

Xét ý nghĩa Thuần Đoài là duyệt dã, đẹp đẽ nên đoán rằng chuyến xe sắp chạy ngang qua thuộc loại đẹp, mà hễ đẹp là ẩn cái nghĩa sạch sẽ mới có nghĩa đẹp.

            Ví dụ 2Bữa nọ bạn cũng bị ngừng lại tại cổng xe lửa này mà bạn tính ra Dịch tượng là Hỏa Phong Đỉnh và trên đường rầy có hai loại xe: 1 loại thuộc về chụm lửa, 1 loại thuộc về điện lực. Với Dịch tượng là Hỏa Phong Đỉnh chúng ta có thể đoán ra chiếc xe sắp chạy ngang là loại chụm lửa.

            Ví dụ 3:  Bữa nọ bạn cũng bị ngừng lại tại cổng xe lửa khi bạn tính ra Dịch tượng là Trạch Hỏa Cách thì bạn biết là nó đổi đầu máy hoặc đem đầu máy này về để đầu máy khác thay thế.

            Ví dụ 4Bữa nọ bạn cũng bị ngừng lại tại cổng xe lửa khi tính ra Dịch tượng là Hỏa Sơn Lữ thì bạn biết là xe lửa chở hành khách.

2. Quan trọng về hào động.

            Bữa nọ lòng bạn muốn tìm một đề mục trong quyển tập có 74 trang, tức mình tìm hoài không biết nó ở khoảng trang thứ mấy. Bạn tính ra như sau:

ThienSonDon  Dịch tượng là Thiên Sơn Độn động hào tam. Xét thấy hào tam là hạ quái, mà quái thì có 6 hào. Tập sách có 74 trang.

    Trước hết bạn lấy 74 trang chia cho 6 hào thì bạn được:  74 : 6 = 12 (còn dư 2).

Nếu bạn cẩn thận hơn thì nên chia con số 74 trang ấy ra làm 2 phần: 1 phần thuộc về thượng quái, còn 1 phần thuộc về hạ quái, thì bạn được thượng quái 37 trang  và hạ quái 37 trang.

Thứ đến bạn lấy số 37 ấy chia làm 3, tức là chia cho tam hào, thì bạn sẽ được con số 12 còn dư 1. Số 1 này là của chung 3 hào, bạn để riêng ra.

Giả sử kế đó bạn lại đem con số 12 đó chia cho 3 hào nữa thì bạn sẽ được con số 4. Khi còn sít soát với 3 hào thì đừng chia nữa.

Khi nãy bạn chia số 37 cho 3 hào thì bạn được con số 12 còn dư 1. Bây giờ bạn muốn cho chính chắn thì hãy nhập con số 1 còn dư khi nãy với con số 4, vậy thì bạn được tất cả là 5 trang trong tập sách. Nhưng thật ra không phải trọn đủ 5 trang. vì nếu đúng theo lẽ thì con số dư 1 đã bị chia thành ra là 0,3333.

Trở lại vấn đề bạn có 5 trang nhưng thật ra không trọn đủ 5 trang. Bây giờ ta tạm nói là 5 trang như vậy từ trang 37 đến trang 41 có cái đề mục của mình muốn tìm.

Chớ nên thỏa mãn, bạn hãy trở về quái lý là Thiên Sơn Độn, bạn hiểu nghĩa là ẩn trốn. Vậy thì nó là 38, 39, 40. Lại trở về quái lý nhỏ hơn nữa với cái lý Độn thì bạn biết nó là trang 39. Xong rồi lại trở về cái lý Độn nhỏ nữa thì bạn sẽ biết cái đề mục ấy nó ở đầu trang hay cuối trang mà nó phải ở khoảng giữa trang.

Lại trở về cái lý độn nhỏ hơn nữa thì bạn sẽ biết là cái đề mục ấy thụt vô 1 chút vì chấm xuống hàng.

 

LySinhKhacLÝ SINH KHẮC TRONG 64 Ý TƯỢNG

     Để giải đáp thắc mắc của đa số học viên hỏi: Tại sao một Dịch Tượng xem ra tốt mà lại xấu, xấu mà lại tốt ? và không biết xảy ra cho mình hay cho người hoặc cho vật khác ?

Sau đây là Bảng Ý thức Chính xác Cương vị của mình trong một sự việc luôn luôn có 4 chiều:

  • Khi ta động thì có 2 chiều: Ta sinh hoặc Ta khắc Kẻ khác.
  • Khi ta tĩnh cũng có 2 chiều: Kẻ khác hoặc sinh hoặc khắc Ta.

Trong kiếp sinh thành của con người và muôn vật lúc nào cũng chỉ là Động Tĩnh. ? Có lúc chúng ta Tự Động, có lúc Bị Động hoặc Thọ Động.

Chúng ta không nên thiên chấp lý luận một chiều. Một dịch tượng chẳng xấu cũng chẳng tốt. Tốt xấu là tùy theo từng việc, từng vấn đề riêng tư của Ta mà thôi. Còn Dịch Lý thì Vô Tư. Lý luận Bị hay Được, đó là do chủ quan của mỗi Người. Mong các bạn nhận định cho kỹ.

Để các bạn dễ hiểu về Lý Sinh Khắc trong 64 ý tượng, chúng tôi trình bày dưới đây 64 bài mẫu với ý tượng chưa được biến thông. Chúng tôi mong rằng khi các bạn học Dịch khá rồi thì sẽ tự biến thông các ý tượng sao cho hợp tình, hợp lý hơn, chớ không phải học thuộc lòng những bài mẫu này.

1.- KHÔN:    Thuận dã là mềm mỏng.

Ta bị nhu nhược. Ta được sự nhu thuận. (Ta tĩnh)

Ta mềm mỏng với kẻ khác. Ta nhu nhược với kẻ khác. (Ta động)

2.- PHỤC:     Phản dã là trở lại, tái hồi.

Ta bị phản hồi. Ta được sự trở về.

Ta phục hưng cho kẻ khác. Ta phản bội kẻ khác.

3.- LÂM:   Đại dã là lớn ở trên soi xuống.

Ta bị giáo hoá. Ta được giáo dục.

Ta giáo tư, dung chở cho kẻ khác. Ta tự đại với kẻ khác.

4.- THÁI:    Thông dã là hanh thông.

Ta bị thông tri. Ta được thông hiểu.

Ta khai thông cho kẻ khác. Ta thông thạo hơn người.

5.- TRÁNG:  Chí dã là chí khí bền.

Ta bị lập nên. Ta có được chí khí.

Ta chí chính cho kẻ khác. Ta hùng tráng với kẻ khác.

6.- QUẢI:     Quyết dã là quyết đoán, dứt khoát.

Ta bị dứt quyết. Ta được sự quyết định.

Ta dứt khoát, phán cho kẻ khác. Ta cương quyết cắt đứt kẻ khác.

7.- NHU:       Thuận dã là chờ đợi nhu cầu.

Ta bị nghiệm xét. Ta được cứu xét.

Ta nghiên cứu cho kẻ khác. Ta nghiệm xét kẻ khác.

8.- TỶ:         Thân dã, tư dã là hân hoan, thân liền.

Ta bị tư thân. Ta được tư thân.

Ta cầu thân với kẻ khác. Ta cởi bỏ mọi người.

9.- CẤN:      Chỉ dã là ngăn giữ.

Ta bị ngăn chặn. Ta được ngăn chặn.

Ta ngăn ngừa cho kẻ khác. Ta ngăn giữ kẻ khác.

10.- BÍ:         Sức dã là trang sức, thông suốt.

Ta bị thấu suốt. Ta được sáng suốt.

Ta sáng tỏ cho kẻ khác. Ta đả thông kẻ khác.

11.- ĐẠI SÚC:   Tụ dã là chứa lớn.

Ta bị tích tụ. Ta được tích tụ.

Ta nuôi chứa kẻ khác. Ta dồn tụ kẻ khác.

12.- TỔN:          Thất dã, hao tổn, thất bác.

Ta bị hao tổn. Ta được ban bố.

Ta ban bố cho kẻ khác. Ta tổn hại kẻ khác.

13.- KHUỂ:        Quai dã là trái lìa, nhờ vã lẫn nhau.

Ta bị hổ trợ. Ta được hổ trợ.

Ta hổ trợ cho kẻ khác. Ta được thế lực hùng hổ với kẻ khác.

14.- LÝ:                Lễ dã là lễ phép, hệ thống qui.

Ta bị theo phép. Ta được lễ kính.

Ta lể kính kẻ khác. Ta bắt lỗi kẻ khác.

15.- TRUNG PHU:    Tín dã là tín cẩn.

Ta bị ủy nhiệm. Ta được tín nhiệm.

Ta tin tưởng kẻ khác. Ta ủy nhiệm kẻ khác.

16.- TIỆM:         Tiến dã là tiến bộ lần lần.

Ta bị tuần tự. Ta được tiệm tiến.

Ta thứ tự cho kẻ khác. Ta chậm chạp và trật tự kẻ khác.

17.- KHẢM:        Hãm dã là hiểm nguy, bắt buộc.

Ta bị hãm hiểm. Ta được kềm hãm.

Ta chịu sự kềm hãm cho kẻ khác. Ta đóng khung kẻ khác.

18.- TIẾT:           Chỉ dã là chừng mực, hạn chế.

Ta bị hạn chế. Ta được hạn chế.

Ta tiết kiệm cho kẻ khác. Ta tiết chế kẻ khác.

19.- TRUÂN:       Nạn dã là khó khăn, trở ngại.

Ta bị gian nan. Ta được cứu khổ.

Ta truân chuyên vì kẻ khác. Ta gây gian truân kẻ khác.

20.- KÝ TẾ:         Hợp dã là hợp pháp.

Ta bị hợp cùng. Ta được hiệp nhau.

Ta hợp lý cho kẻ khác. Ta cấu hợp kẻ khác.

21.- CÁCH:         Cải dã là thay đổi.

Ta bị cải biến. Ta được hoán cải.

Ta hoàn thiện cho kẻ khác. Ta biến chế kẻ khác.

22.- PHONG:       Thịnh dã là thịnh đại, lớn.

Ta bị đồng hóa. Ta được hòa đồng.

Ta hòa đồng với kẻ khác. Ta đồng hóa với kẻ khác.

23.- MINH DI:       Thương dã là bị thương.

Ta bị thương. Ta được thương hại.

Ta đau thương vì kẻ khác. Ta gây tang thương cho kẻ khác.

24.- SƯ:             Chúng dã, ủng hộ nhau, nhiều người.

Ta bị áp chúng. Ta được chúng ủng hộ.

Ta ủng hộ kẻ khác. Ta được chúng ủng hộ.

25.- TỐN:            Nhập dã là thuận, vào ở trong.

Ta bị sát nhập. Ta được gia nhập.

Ta thuận nhập,vào ra với kẻ khác.Ta du nhập,đột nhập kẻ khác

26.- TIỂU SÚC:    Tắc dã là chứa góp ít.

Ta bị cô đơn. Ta được riêng ý.

Ta độc đáo vì kẻ khác. Ta cô lập hay là bất điệu với kẻ khác.

27.- GIA NHÂN:    Đồng dã là cùng nhau.

Ta bị thêm người. Ta được sinh sôi nẩy nở.

Ta sinh sôi cho kẻ khác. Ta đồng hóa kẻ khác làm gia đinh.

28.- ÍCH:             Ích dã là tăng thêm, ích lợi.

Ta bị lợi dụng. Ta được lợi ích.

Ta ban lộc cho người. Ta lợi dụng kẻ khác.

29.- VÔ VỌNG:    Thiên tai dã là tai nạn tự nhiên.

Ta bị xâm lấn. Ta được xâm phạm.

Ta chịu sự xâm nhập. Ta xâm phạm kẻ khác.

30.- PHÊ HẠP:      Khiết dã là cắn hợp, hỏi han.

Ta bị đay nghiến. Ta được cắn hợp.

Ta chịu sự dày xéo. Ta đay nghiến kẻ khác.

31.- DI:              Dưỡng dã là chăm lo, nuôi nấng.

Ta bị an nghỉ. Ta được bồi dưỡng.

Ta bổ dưỡng cho kẻ khác. Ta an nghỉ kẻ khác.

32.- CỔ:            Sự dã là cớ sự, việc.

Ta bị cớ sự. Ta được cớ sự,

Ta chịu cớ sự cho kẻ khác. Ta gây cớ sự với kẻ khác.

33.- CHẤN:       Động dã là chấn động, dấy khởi.

Ta bị kinh động. Ta được dấy động.

Ta hoạt động cho kẻ khác. Ta gây kinh động cho kẻ khác.

34.- DỰ:             Duyệt dã là phòng bị, vui vẻ.

Ta bị múa rối. Ta được vui động.

Ta động vui cho kẻ khác. Ta múa rối, rộn tan kẻ khác.

35.- GIẢI:          Thuận dã là phân tán, cởi mở, giải đãi.

Ta bị phân tán. Ta được phóng thích.

Ta phóng thích cho kẻ khác.

36.- HẰNG:        Cửu dã là lâu, bền vững.

Ta bị kéo dài. Ta được bền vững.

Ta bền chặt với kẻ khác. Ta đeo theo kẻ khác.

37.- THĂNG:      Tiến dã là vọt lên, đi không trở lại.

Ta bị hối hả. Ta được mau chóng.

Ta sốt sắng cho kẻ khác. Ta hối thúc kẻ khác.

38.- TĨNH:            Tịnh dã là trầm lặng, sâu.

Ta bị dìm sâu. Ta được yên lặng.

Ta  đem sự bình an cho kẻ khác. Ta dìm sâu kẻ khác.

39.- ĐẠI QUÁ:     Quá dã là nhiều quá, thái quá.

Ta bị qúa đỗi. Ta được tích cực.

Ta tích cực cho kẻ khác. Ta qúa độ với kẻ khác.

40.- TÙY:            Thuận dã là theo.

Ta bị lệ thuộc. Ta được tùy nghi.

Ta chìu chuộng kẻ khác. Ta lệ thuộc hóa kẻ khác.

40.- LY:            Lệ dã là sáng sủa, bám vào, phụ vào.

Ta bị tranh sáng. Ta được sáng sủa.

Ta sáng tỏ cho kẻ khác. Ta tranh sáng với kẻ khác.

42.- LỮ:             Khách dã là khách, ở trọ, lữ thứ.

Ta bị lang thang. Ta được khách qúy.

Ta bằng lòng cho ở đỗ. Ta tá ngụ nhà người.

43.- ĐỈNH:         Định dã là nung nấu, úng đúc.

Ta bị nung nấu. Ta được ung đúc.

Ta ung đúc kẻ khác. Ta nung đốt kẻ khác.

44.- VỊ TẾ:        Thất dã là thất bác, dỡ dang.

Ta bị dở dang. Ta nhờ sự dở dang.

Ta thất bác cho kẻ khác. Ta phá hỏng kẻ khác.

45.- MÔNG:       Muội dã là mờ mịt, tối tăm.

Ta bị ám muội. Ta được sự ám muội.

Ta che đậy mờ ám cho kẻ khác. Ta bất minh với kẻ khác.

46.- HOÁN:        Tán dã là tan ra, lìa tan.

Ta bị xa lánh. Ta được xa lánh.

Ta phi tang cho kẻ khác. Ta tan biến kẻ khác.

47.- TỤNG:         Luận dã là luận bàn, kiện cáo.

Ta bị tranh tụng. Ta được sự biện minh.

Ta biện luận cho kẻ khác. Ta gây gỗ kiện tụng kẻ khác.

48.- ĐỒNG NHÂN: Thân dã là gần gũi,cùng chung với người khác.

Ta bị yêu chuộng. Ta được sự đồng ý.

Ta biểu đồng tình với kẻ khác.Ta ngang hàng thất kính kẻ khác.

49.- ĐOÀI:         Duyệt dã là vui lòng, hiện đẹp.

Ta bị đùa cợt. Ta được vui đẹp.

Ta vui đẹp cho kẻ khác. Ta cười chê, đùa cợt kẻ khác.

50.- KHỐN:       Nguy dã là lo âu, nguy khốn.

Ta bị nguy khốn. Ta được lo lắng.

Ta lo lắng cho kẻ khác. Ta làm nguy khốn kẻ khác.

51.- TỤY:           Tụ dã, tụ họp, tụ lại mà không đi.

Ta bị trưng tập. Ta được tụ tập.

Ta cổ động cho kẻ khác. Ta trưng tập kẻ khác.

52.- HÀM:          Cảm dã là cảm xúc.

Ta bị cảm động. Ta được cảm tương.

Ta tương cảm đến kẻ khác. Ta làm xúc động kẻ khác.

53.- KIỂN:          Nạn dã là hoạn nạn, khó khăn.

Ta bị trở ngại. Ta được sự ngăn trở.

Ta ngăn ngừa cho kẻ khác. Ta chướng ngại kẻ khác.

54.- KHIÊM:        Thoái dã là lui lại, nhún nhường.

Ta bị miệt thị. Ta được nhún nhường.

Ta khiêm tốn với kẻ khác. Ta miệt thị kẻ khác.

55.- TIỂU QUÁ:   Quá dã là nhỏ quá, thiểu lý.

Ta bị hèn hạ. Ta được phận mọn.

Ta đoái hoài đến kẻ khác. Ta phiền nhiễu kẻ khác.

56.- QUI MUỘI:    Tai dã là tai nạn, rối ren.

Ta bị đẹp động. Ta được đẹp động.

Ta chịu sự rối ren cho kẻ khác. Ta khuấy rối kẻ khác.

57.- KIỀN:          Kiện dã là mạnh mẽ.

Ta bị sức mạnh. Ta được lớn mạnh.

Ta hùng mạnh cho kẻ khác. Ta cường bạo với kẻ khác.

58.- CẤU:          Ngộ dã là gặp gỡ.

Ta bị bắt gặp. Ta được cấu kết.

Ta mai mối cho kẻ khác. Ta bắt gặp kẻ khác.

59.- ĐỘN:       Thoái dã là lui ẩn, trốn đi.

Ta bị ẩn trốn. Ta được ẩn trốn.

Ta che dấu cho kẻ khác. Ta ẩn trốn kẻ khác.

60.- BĨ:            Tắc dã là bế tắc.

Ta bị bế tắc. Ta được sự bế tắc.

Ta bế tắc cho kẻ khác. Ta tắc nghẽn kẻ khác.

61.- QUÁN:      Quan dã là xem xét, quan sát.

Ta bị quan sát. Ta được xem xét.

Ta trông nom cho kẻ khác. Ta quan sát kẻ khác.

62.- BÁC:        Lạc dã là bớt, lột mất.

Ta bị lột xác. Ta được xoá mờ.

Ta xoá nhòa cho kẻ khác. Ta lột xác kẻ khác.

63.- TẤN:        Tiến dã là đến hay đi, tiến tới.

Ta bị đi. ta được đến.

Ta hiện diện cho kẻ khác. Ta xuồng xã đến kẻ khác.

64.- ĐẠI HỮU:  Khoan dã là cả có.

Ta bị trùng điệp. Ta có được nhiều.

Ta phong phú cho kẻ khác. Ta đa sự với kẻ khác.

BaiDocThem

VoTuLaGiTư duy, Tư tưởng , Suy tư, Trầm tư, Quán tưởng …tất cả chỉ là hoạt động cuả Trí tuệ Con người với mục đích tự tìm cho mình cái Lý lẽ nào đó đã và đang cảm nhận từ trong chính nó phát sinh hay do tha nhân giới thiệu , truyền đạt ngõ hầu chọn lọc điều mà tự nó sẽ cho là Chính lý , là đúng nhất là thích hợp với tư năng và kỹ năng của chính nó . Trong diễn trình tư duy này Con người gặp phải rất nhiều chướng ngại từ nội thân lẫn ngoại cảnh tương tác hay áp chế làm ảnh hướng rất lớn đến chính đời sống con người của nó. Phản ảnh tai hại của nó là những thái trạng hoang tưởng, cuồng tín, tự tôn tự đại hay tự ti mặc cảm hoặc lãnh cảm . Vậy phải tư duy  thế nào để Trí tuệ có được sự Vô Tư thanh thản độc lập chính lý chính xác và sáng tạo . SUY LUẬN VÔ TƯ LÀ GÌ ? Nghĩa là chấp nhận Vạn Hữu có Trí-Tri-Ý riêng biệt của nó. Vạn vật có Tri giác của chúng, chẳng qua con người hiểu lầm chúng Vô Tri giác, Tri giác con người khác Tri giác loài vật nên khó thông cảm mặc dù hàng ngày chung đụng mật thiết với nhau . Cho nên, Vô tư là Tư lự mà Bất Thiên Bất Nhiễm, là cố gắng triệt tiêu Thiên kiến, Định kiến . Có vô số Tri giác giống mà hơi khác nhau, vì mỗi giống loài đã Biến hoá đều có ôm ấp Tiên Thiên tính giống mà hơi khác nhau trong Chuỗi lý Biến Hoá của mình và tất cả đã và đang chịu đựng, phối hợp, giao cảm với nhau, hữu dụng lẫn cho nhau, gần gũi nhau . Sự chung đụng giữa Vạn Hữu, quả thật  thường là ngoài ý muốn, vì nếu ta hỏi: Không Khí , Đất đá, Cây cối, Vi khuẩn  và muôn giống loài khác, lấy Lý lẽ gì mà ở gần chúng ta, chung đụng với ta và chúng ta có trốn thoát khỏi cảnh tình tự giữa mình với chúng không? Chúng ta thường đều thiếu Đức Vô Tư ; Ví dụ Ta cầm một miếng gỗ. Tri giác của con người cho đó là Gỗ, đặt tên là “Gỗ” và coi nó là Vô tri dùng đóng bàn ghế . Nhưng nếu ta lại đả phá tư tưởng của chính ta : Có chắc đó là Gỗ không ? Nếu ta không phải loài người, nếu ta là con Mối, là Lửa, là Cây; ta sẽ lập luận ra sao? Có lẽ ta sẽ đặt tên cho Gỗ là Thức ăn, Đồ bổ dưỡng, là Da thịt của ta. Trí Tri của loài người là Gỗ. Trí Tri của Mối, Lửa là thức ăn, Trí tri của Cây là Da thịt  và rồi nó thể hiện Ý của nó ; Mối, Lửa thì ăn gậm nhấm Gỗ ;Cây thì đau đớn bị cắt xẻ…Vậy là Ý có Danh ý là do Trí Tri phối hợp để có Danh Được Lý và chỉ đúng trong Phạm vi của nó.  Cho nên dùng một lý lẽ ngoài ý muốn của một người hoặc một vật nào đó để bắt buộc tha nhân tha vật ấy phải theo Ý mình là thiếu Vô Tư . Và  nếu còn có ý muốn can dự, can thiệp vào các Khách thể khác thì chỉ là muốn có sở đắc trong một phạm vi hạn hẹp nào đó để cưỡng bách tha nhân tha vật phục vụ cho mình mà thôi … Ngoài ra còn như những sự chung đụng hết sức hữu tình như: Sanh, Bịnh, Lão, Tử  chắc không ai dám quyết đoán là mình có ý muốn tham dự, hay phản bác được rằng mình sẽ bất tử….bởi vì chúng tha hồ đến rồi đi bất chấp Ý muốn của ta , ngoài ý muốn của ta .

TƯ  DUY  LÝ  DỊCH

Vạn Hữu vốn muôn hình vạn trạng, trùng trùng sắc thái, tính chất, tính lý khác nhau. Nó được Dịch Lý  qui về NHẤT LÝ, thể hiện ra bằng hai hình bóng, hai Ký hiệu Âm Dương được và bị dùng làm bờ neo suy lý, lý luận luận lý . Suy tư rồi lập luận, ắt là có lý luận, có bàn luận cho vỡ lẽ cho ra lẽ . Hoạt động tự đả phá thanh lọc kiến thức, tri thức, lý tuởng, lý lẽ của chính mình, luôn luôn và liên lỉ trong nhiều ngày nghiã là tự mình thành khẩn cầu mong truy tìm sự Hữu Lý, tự mình đả phá cho đến tận cùng kỳ lý của Lý Trí, của Trí tuệ và  khi không còn đả phá được cái mà Lý Trí vừa nêu ra, ắt sẽ đạt được Lý; tức là Trí tuệ đã Sở đắc về Thần Hoạt Biến (Hoạt bát Biến thông). Tuy nhiên sẽ xẩy ra  trường hợp ta còn kém Lý lẽ , kiến thức ta còn giới hạn ; nghĩa là Lý lẽ vừa nêu ra còn sai lầm mà ta vẫn không đả phá nổi, để rồi hoang tưởng là ta đã đạt được Lý đã về đến tận cùng cuả mọi câu hỏi tại sao ? Tại sao của tại sao ? . Điều này vượt qua không khó, nếu ta quyết tâm , kiên trì truy tầm CHÂN LÝ.

KẾT LUẬN

Vậy suy luận Vô tư  Lý Dịch là làm sao hiểu  rõ được Vạn Vật Qui Nhất Lý : Âm Dương Biến Hoá Nhất Luật .  Suy luận Vô Tư là để đạt đến Tận cùng kỳ Lý của Lý Trí, đạt Chân Lý, đạt cái Nhất Lý Thường hằng chi phối Vũ trụ muôn đời, muôn nơi . Lý luận Vô Tư  quả thật vượt qua khỏi lối suy luận hạn hẹp của loài người. Con người chúng ta cứ mãi lẩn quẩn, cứ mãi mò mẫm hạn hẹp phạm vi mà hóa ra xa rời Chân Lý. Không nên chỉ lý luận riêng ở phạm vi con người trong chúng ta để rồi lại tồi tệ nằng nặc ý riêng ta là tuyệt đối đúng, là Chân lý để áp đặt cho muôn loài trong Vũ Trụ , vì làm như vậy là tự phủ nhận Lý Trí mà hóa ra khó tiến tới công cuộc truy tầm Chân Lý, là đánh Mất Vô Tư . Tóm lại, Chân Lý của mỗi trình độ có hơi khác nhau, hà cớ bắt buộc Chân Lý của mình phải là Chân Lý của người khác mà nên cùng nhau GMHK nhận ra Chân Lý Vũ Trụ với Nhất Lý Biến Hoá .

Phân Hội Đức

Hạnh Thanh

.

.

Advertisements

Đã đóng bình luận.

%d bloggers like this: